Tổng quan nghiên cứu

Chỉ định thầu mua sắm hàng hóa công là một mắt xích trọng yếu trong việc bảo đảm tiến độ vận hành của bộ máy hành chính và cung ứng dịch vụ công ích. Tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2016 - 2019, phương thức chỉ định thầu đã xử lý kịp thời nhu cầu trang thiết bị chuyên dụng, giúp rút ngắn khoảng 30% đến 50% thời gian thực hiện so với đấu thầu rộng rãi. Tuy nhiên, hoạt động này cũng bộc lộ nhiều nguy cơ thất thoát nguồn vốn công khi thiếu vắng cơ chế kiểm soát giá minh bạch.

Vấn đề cốt lõi mà nghiên cứu tập trung giải quyết là sự xung đột giữa tính cấp bách của mua sắm công và nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng, minh bạch theo Luật Đấu thầu 2013. Luận văn hướng tới 3 mục tiêu cụ thể: hệ thống hóa cơ sở lý luận về chỉ định thầu mua sắm hàng hóa; khảo sát thực trạng thi hành pháp luật tại 12 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường trong giai đoạn 2016 - 2019; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với công tác quản lý tài chính công. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học nhằm kiểm soát tỷ lệ tiết kiệm ngân sách đạt tối thiểu 5% đến 8% đối với các gói thầu chỉ định, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong bối cảnh các đơn vị công lập đẩy mạnh cơ chế tự chủ tài chính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của Lý thuyết Đại diện (Agency Theory) và Lý thuyết Lựa chọn Công (Public Choice Theory) trong quản lý kinh tế nhà nước. Lý thuyết Đại diện giải thích mối quan hệ bất đối xứng thông tin giữa chủ sở hữu nguồn vốn (Nhà nước) và chủ đầu tư hoặc bên mời thầu được ủy quyền. Khi cơ chế giám sát thiếu chặt chẽ, chủ đầu tư dễ nảy sinh hành vi trục lợi, ưu ái nhà thầu thân hữu. Trong khi đó, Lý thuyết Lựa chọn Công làm sáng tỏ động cơ của các chủ thể công quyền khi đưa ra quyết định mua sắm thường hướng đến tối đa hóa lợi ích cục bộ thay vì lợi ích tối ưu của cộng đồng.

Bên cạnh đó, luận văn làm rõ 4 khái niệm pháp lý then chốt:

  1. Đấu thầu mua sắm hàng hóa theo Khoản 2 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013 và Khoản 1 Điều 214 Luật Thương mại 2005.
  2. Chỉ định thầu mua sắm hàng hóa với tư cách là hình thức lựa chọn nhà thầu trực tiếp trong các trường hợp đặc biệt được quy định tại Điều 22 Luật Đấu thầu 2013.
  3. Hạn mức chỉ định thầu theo Điều 54 Nghị định 63/2014/NĐ-CP (không quá 01 tỷ đồng cho gói thầu mua sắm hàng hóa và không quá 100 triệu đồng cho mua sắm thường xuyên theo Thông tư 58/2016/TT-BTC).
  4. Đơn vị sự nghiệp công lập với vai trò là đơn vị dự toán cấp 2 trực tiếp quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước để mua sắm tài sản công.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ 45 hồ sơ gói thầu mua sắm trang thiết bị, vật tư chuyên ngành tài nguyên môi trường giai đoạn 2016 - 2019, kết hợp cùng các báo cáo kiểm toán, kết luận thanh tra và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 45 gói thầu được lựa chọn từ 12 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích kết hợp phân tầng theo quy mô giá trị: 20 gói thầu có giá trị dưới 100 triệu đồng, 18 gói thầu từ 100 triệu đến 1 tỷ đồng và 7 gói thầu mua sắm đặc thù trên 1 tỷ đồng. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp thống kê mô tả là nhằm đối chiếu trực tiếp giữa quy định của Luật Đấu thầu 2013 với dữ liệu vận hành thực tế, từ đó lượng hóa chính xác các sai phạm phổ biến như chia nhỏ gói thầu hay sai lệch giá dự toán.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn giai đoạn 2016 - 2019 tại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tình trạng lạm dụng chỉ định thầu thông qua hành vi chia nhỏ dự toán diễn ra phổ biến. Trong tổng số 45 gói thầu khảo sát, có tới 16 gói thầu (tương đương 35,5%) xuất hiện dấu hiệu phân tách khối lượng mua sắm thành các hợp đồng dưới 100 triệu đồng hoặc dưới 1 tỷ đồng nhằm né tránh hình thức chào hàng cạnh tranh hoặc đấu thầu rộng rãi.

Thứ hai, tỷ lệ tiết kiệm ngân sách qua chỉ định thầu đạt mức rất thấp. Trong khi hình thức đấu thầu rộng rãi mang lại tỷ lệ tiết kiệm bình quân từ 7,5% đến 12,3%, thì các gói thầu chỉ định thầu chỉ đạt mức tiết kiệm tượng trưng từ 0,5% đến 1,8% so với giá gói thầu được duyệt.

Thứ ba, việc xác định giá gói thầu thiếu căn cứ thị trường tin cậy. Do thiếu quy định định hướng giá trần và phương pháp thẩm định giá độc lập, giá phê duyệt trúng thầu của nhiều loại thiết bị quan trắc môi trường, máy đo đạc địa chính cao hơn từ 15% đến 30% so với giá bán thực tế của nhà nhập khẩu chính hãng.

Thứ tư, vi phạm về năng lực nhân sự và điều kiện pháp lý của nhà thầu. Khoảng 15% hồ sơ chỉ định thầu chưa đảm bảo quy định về việc đăng ký thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trước thời điểm đóng thầu 02 ngày làm việc theo Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC. Hơn 40% thành viên tổ chuyên gia tại các đơn vị sự nghiệp cơ sở là cán bộ kiêm nhiệm, chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn tối thiểu 03 năm công tác trong lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật liên quan theo Điều 116 Nghị định 63/2014/NĐ-CP.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên xuất phát từ sự thiếu hoàn thiện của chế tài pháp lý. Luật Đấu thầu 2013 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP chưa quy định rõ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu khi phê duyệt giá dự toán không sát thực tế. Tình trạng này tạo ra kẽ hở tương tự như các vụ việc sai phạm nghiêm trọng được Thanh tra Chính phủ chỉ ra tại các dự án chỉ định thầu của Công ty Thái Sơn (Bộ Quốc phòng) hay các gói mua sắm thiết bị y tế chống dịch Covid-19, nơi máy xét nghiệm Real-time PCR bị nâng khống giá gấp 2 đến 3 lần, đạt mức 2 đến 3 tỷ đồng mỗi máy.

So sánh với thông lệ quốc tế, các định chế tài chính lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đều không quy định ngưỡng hạn mức áp dụng chỉ định thầu cứng nhắc mà mặc định áp dụng đấu thầu cạnh tranh quốc tế. Chỉ định thầu chỉ được chấp thuận trong những trường hợp bất khả kháng hoặc độc quyền công nghệ với quy trình giải trình nghiêm ngặt.

Dữ liệu khảo sát thực tế có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột so sánh mức độ tiết kiệm ngân sách giữa các hình thức lựa chọn nhà thầu, kết hợp với bảng tổng hợp các hành vi vi phạm thủ tục chỉ định thầu nhằm minh họa trực quan sự chênh lệch hiệu quả kinh tế - xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động chỉ định thầu mua sắm hàng hóa công lập, 4 giải pháp cụ thể được đề xuất:

  1. Hoàn thiện quy định về phương pháp định giá gói thầu: Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp cùng Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn bắt buộc sử dụng cơ sở dữ liệu giá thị trường điện tử quốc gia để lập dự toán gói thầu chỉ định, hoàn thành trước quý IV năm 2021, đảm bảo giá gói thầu không được chênh lệch vượt quá 5% so với giá giao dịch thực tế.
  2. Tăng cường chế tài thanh tra và kiểm soát hành vi chia nhỏ dự toán: Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng các đơn vị chức năng thực hiện thanh tra định kỳ 100% các gói thầu mua sắm có giá trị từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng trong giai đoạn 2021 - 2023, quy định hình thức kỷ luật cách chức hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra đối với chủ đầu tư cố tình chia tách dự án.
  3. Chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa nhân sự đấu thầu: Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chế bắt buộc 100% cán bộ tham gia tổ chuyên gia đấu thầu và tổ thẩm định tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc phải có chứng chỉ hành nghề đấu thầu chuyên nghiệp và tối thiểu 03 năm kinh nghiệm thực tế trước năm 2022.
  4. Triển khai số hóa toàn diện quy trình chỉ định thầu: Trung tâm Công nghệ thông tin trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường tích hợp 100% quy trình đăng tải thông tin, phát hành hồ sơ yêu cầu và thẩm định kết quả chỉ định thầu lên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo lộ trình 2021 - 2022, rút ngắn thời gian công khai kết quả từ 10 ngày xuống còn tối đa 03 ngày làm việc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cán bộ quản lý và chuyên viên đấu thầu tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Nắm vững các bước quy trình chỉ định thầu thông thường và rút gọn theo chuẩn Nghị định 63/2014/NĐ-CP, từ đó tối ưu hóa thời gian thực hiện gói thầu trong vòng 45 ngày và phòng ngừa rủi ro vi phạm thủ tục.
  2. Cơ quan thanh tra, kiểm tra và kiểm toán nhà nước: Sử dụng khung tiêu chí và danh mục các dấu hiệu chia nhỏ gói thầu, nâng giá dự toán làm tài liệu tham chiếu nghiệp vụ khi tiến hành thanh tra hoạt động mua sắm công.
  3. Doanh nghiệp và nhà thầu cung ứng hàng hóa, thiết bị chuyên ngành: Hiểu rõ yêu cầu pháp lý về hồ sơ đề xuất, điều kiện đăng ký thông tin trước 02 ngày làm việc trên hệ thống đấu thầu để tham gia thương thảo hợp đồng hợp lệ.
  4. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Luật Kinh tế: Khai thác hệ thống dữ liệu thực chứng và lập luận lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật thương mại, pháp luật đấu thầu với quản trị tài chính công.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hạn mức chỉ định thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hóa hiện nay được pháp luật quy định là bao nhiêu? Theo Điều 54 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, hạn mức chỉ định thầu mua sắm hàng hóa thuộc dự án đầu tư phát triển là không quá 01 tỷ đồng. Đối với gói thầu thuộc dự toán mua sắm thường xuyên theo Thông tư 58/2016/TT-BTC, hạn mức áp dụng hình thức chỉ định thầu rút gọn là không quá 100 triệu đồng.

  2. Thời gian tối đa để thực hiện một quy trình chỉ định thầu thông thường là bao lâu? Theo Khoản 2 Điều 22 Luật Đấu thầu 2013, thời gian thực hiện chỉ định thầu kể từ ngày phê duyệt hồ sơ yêu cầu đến ngày ký kết hợp đồng không được quá 45 ngày. Đối với các gói thầu có quy mô lớn, tính chất kỹ thuật phức tạp, thời hạn tối đa cho phép là không quá 90 ngày.

  3. Pháp luật xử lý hành vi cố tình chia nhỏ gói thầu để áp dụng chỉ định thầu như thế nào? Hành vi chia nhỏ gói thầu là hành vi bị cấm theo Khoản 6 Điều 89 Luật Đấu thầu 2013. Tùy theo tính chất vi phạm, cá nhân và tổ chức vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 30 triệu đến 50 triệu đồng theo Nghị định 50/2016/NĐ-CP, bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 1 đến 5 năm hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

  4. Nhà thầu cần đáp ứng điều kiện tiên quyết nào về mặt thông tin mạng trước khi được chỉ định thầu? Theo Điều 5 Luật Đấu thầu 2013 và Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC, nhà thầu phải có xác nhận đăng ký thông tin hợp lệ trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tối thiểu 02 ngày làm việc trước thời điểm đóng thầu hoặc trước thời điểm trao hợp đồng chỉ định thầu.

  5. Vì sao các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) lại hạn chế tối đa chỉ định thầu? Các tổ chức quốc tế như WB và ADB ưu tiên đấu thầu rộng rãi nhằm triệt tiêu độc quyền và tối đa hóa cạnh tranh thị trường. Chỉ định thầu thường triệt tiêu sự so sánh giá độc lập, khiến tỷ lệ tiết kiệm ngân sách giảm sâu xuống dưới 2% và làm gia tăng nguy cơ thông đồng lợi ích nhóm giữa bên mời thầu và nhà thầu.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và chỉ rõ bản chất kinh tế - pháp lý của hình thức chỉ định thầu mua sắm hàng hóa công lập.
  • Làm sáng tỏ thực trạng thi hành tại 12 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2016 - 2019 qua 45 hồ sơ gói thầu cụ thể.
  • Nhận diện 4 nhóm sai phạm trọng điểm: lạm dụng chia nhỏ gói thầu, tỷ lệ tiết kiệm ngân sách thấp dưới 2%, định giá dự toán thiếu chuẩn xác và thiếu hụt nhân sự chuyên môn.
  • Đề xuất 4 giải pháp đồng bộ về xây dựng cơ sở dữ liệu giá trần, siết chặt thanh tra, chuẩn hóa 100% cán bộ tổ chuyên gia và số hóa quy trình trên mạng đấu thầu quốc gia giai đoạn 2021 - 2023.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo giàu giá trị khoa học và thực tiễn cho công tác lập pháp, giảng dạy và quản trị mua sắm tài sản công.

Các cơ quan quản lý và đơn vị sự nghiệp công lập cần khẩn trương rà soát lại quy trình mua sắm nội bộ, chủ động áp dụng các giải pháp kiểm soát giá và tăng cường công khai thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia ngay hôm nay để bảo đảm an toàn pháp lý và tối ưu hóa nguồn lực tài chính nhà nước.