Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý NSNN. Chương 2: Thực trạng quản lý ngân sách tại các xã biên giới của huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách tại các xã biên giới của huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. 8 ƢƠ 1 Ơ Ở KHOA HỌC VỀ QUẢ À ƢỚ 1.
Những vấn đề chung về quản lý ngân sách nhà nƣớc 1. Khái ni s c, thu chi NSNN Ngân sách Nhà nước, hay ngân sách Chính phủ là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "ngân sách Nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách Nhà nước lại chưa thống nhất, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách Nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu.
Sự hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách Nhà nước. Các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển cho rằng: NSNN là m t văn iện tài chính mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ được thiết lập h ng năm. hi u nhà nghiên cứu kinh tế hiện đ i thì cho rằng NSNN là bảng liệt kê các khoản thu chi bằng ti n mặt trong m t gi i đo n nh t định củ nh nư c (Keynes, 1936).
Theo Luật NSNN đã được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/06/2015: “ gân sách h nư c là toàn b các khoản thu, chi củ h nư c được dự toán và thực hiện trong m t khoảng thời 9 gian nh t định do cơ qu n h nư c có thẩm quy n quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ củ h nư c”.1: Hệ thống ngân sách hà nƣớc HỆ THỐNG NSNN Trung ƣơng gân sách địa phƣơng NS tỉnh (NS Thành phố trực thuộc Trung ƣơng) Ngân sách Huyện (Quận), thành phố, thị xã thuộc tỉnh (phƣờng), thị trấn Thực chất, ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. 10 Nguồn thu NSNN từ các lĩnh vực kinh tế xã hội (KT-XH) chính là các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, trong đó thuế là hình thức thu phổ biến dựa trên tính cưỡng chế là chủ yếu. Chi tiêu của ngân sách Nhà nước (NSNN) nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định pháp luật. NSNN là một hệ thống bao gồm các cấp ngân sách phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp, được phân thành ngân sách Trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP).
Tương ứng với các cấp ngân sách của hệ thống NSNN, quỹ NSNN được chia thành: quỹ ngân sách của Trung ương, quỹ ngân sách của chính quyền cấp tỉnh và tương đương, quỹ ngân sách của chính quyền cấp huyện và tương đương, quỹ ngân sách của chính quyền cấp xã và tương đương. Để thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước cần có một khoản thu nhất định để trang trải các khoản chi phí đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển bộ máy, các hoạt động quản lý xã hội và đảm nhận các khoản chi phí phục vụ cho mục đích công cộng khác. Do đó, Nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế) để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình tạo tiền đề về vật chất cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thực chất, thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, đồng thời thu NSNN cũng là một kênh phân phối thu nhập quốc dân trong hệ 11 thống tài chính quốc gia.
Về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Theo giáo trình Quản lý tài chính công (2011) của Học viện Hành chính Quốc gia, thì: Thu NSNN là việc h nư c hu đ ng m t phần nguồn lực của xã h i hình thành nên quỹ ti n tệ tập trung củ h nư c nhằm đảm bảo các nhu cầu chi ti u ác định củ h nư c. Nhà nước tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình bằng cách phân chia các nguồn lực của xã hội giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước.
Sự phân chia đó là tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước, cũng như việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Theo Luật Ngân sách số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 thì các nguồn thu cơ bản của ngân sách Nhà nước gồm: Thuế Thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của cá nhân hoặc doanh nghiệp cho Nhà nước có thể bằng hình thức trực tiếp (thuế đánh vào thu nhập) hoặc gián tiếp (thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…). Trong các nội dung thu NSNN thì nguồn thu từ thuế chiếm chủ yếu và có tính bền vững cao do được trích từ một phần giá trị của hoạt động sản xuất, kinh doanh, và cũng là một công cụ hữu hiệu của Nhà nước dùng để điều tiết các hoạt động của nền kinh tế. 12 Tiền thu từ thuế không hoàn trả trực tiếp mà hoàn trả gián tiếp và không tương đương dưới hình thức người chịu thuế được hưởng các hàng hoá, dịch vụ Nhà nước cung cấp không mất tiền hoặc với giá thấp và không phân biệt giữa người nộp thuế nhiều hay ít.
Phí và l phí Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do Nhà nước cung cấp. So với thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn. Phí gắn liền với với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình. Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân.
Các khoản thu từ hoạt ộng kinh tế c c Các khoản thu này bao gồm, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi), thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Thu từ hoạt ộng sự nghi p Các khoản thu được thu từ bán sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp như thu tiền bán sản phẩm sản xuất thử của các đơn vị nghiên cứu khoa học, bán sách do trường tự in ấn…hay là khoản chênh lệch giữa thu và chi của các đơn vị hoạt động sự nghiệp có thu. 13 Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu c Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang tính chất phân phối lại, vừa có tính chất phân phối lại, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia vừa tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Các nguồn thu từ bán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên, thiên nhiên; thu về bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.
Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản Các khoản thu này cũng là một phần thu quan trọng của thu ngân sách Nhà nước và được pháp luật quy định. Các khoản thu khác Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam, các cấp chính quyền và các cơ quan, đơn vị Nhà nước. Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi ngân sách nh nư c việc phân ph i v sử dụng quỹ ngân sách nh nư c nhằm đảm ảo thực hiện chức năng củ nh nư c theo những ngu n t c nh t định.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước. 14 Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm: + Chi tích lũy: Chi cho tăng cường cơ sở vật chất như đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản (XDCB), khấu hao tài sản xã hội.