Luận án tiến sĩ quản lý tài nguyên và môi trường nghiên cứu địa mạo phục vụ quy hoạch không gian biển vùng biển tây nam việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu địa mạo phục vụ quy hoạch không gian biển vùng tây nam Việt Nam, tập trung vào quản lý tài nguyên và môi trường.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

168
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Nội dung nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Những luận điểm bảo vệ

1.5. Điểm mới của luận án

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

2.2. Quan điểm, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2.3. Khung lý thuyết và các bước thực hiện luận án

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG BIỂN TÂY NAM VIỆT NAM

3.1. Vị trí địa lý và vị thế vùng biển Tây Nam Việt Nam

3.2. Điều kiện tự nhiên

3.3. Điều kiện kinh tế - xã hội

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO VÙNG BIỂN TÂY NAM VIỆT NAM

4.1. Nguyên tắc thành lập bản đồ địa mạo

4.2. Các thành tạo địa mạo vùng biển Tây Nam Việt Nam

4.3. Tiến hóa địa mạo

4.4. Đánh giá biến động đường bờ biển khu vực nghiên cứu

4.5. Tài nguyên địa hình/địa mạo

4.6. Phân vùng địa mạo

4.6.1. Nguyên tắc phân vùng địa mạo

4.6.2. Tiểu vùng địa mạo lục địa ven biển Kiên Giang - Cà Mau

4.6.3. Tiểu vùng địa mạo đất ngập nước ven biển Kiên Giang - Cà Mau

4.6.4. Tiểu vùng địa mạo biển - đảo Phú Quốc - Hà Tiên - Nam Du

4.6.5. Tiểu vùng địa mạo biển - đảo Thổ Chu

4.6.6. Tiểu vùng địa mạo Nam mũi Cà Mau

4.6.7. Tiểu vùng địa mạo Tây mũi Cà Mau

5. CHƯƠNG 5: ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG KHÔNG GIAN BIỂN VÙNG BIỂN TÂY NAM VIỆT NAM

5.1. Phân vùng sinh thái và các hệ sinh thái vùng biển Tây Nam Việt Nam

5.1.1. Nguyên tắc phân vùng sinh thái và các hệ sinh thái biển

5.1.2. Các hệ sinh thái vùng sinh thái lục địa ven biển Kiên Giang - Cà Mau

5.1.3. Các hệ sinh thái vùng sinh thái đất ngập nước ven biển Kiên Giang - Cà Mau

5.1.4. Các hệ sinh thái vùng sinh thái biển - đảo Phú Quốc - Hà Tiên - Nam Du

5.1.5. Các hệ sinh thái vùng sinh thái biển - đảo Thổ Chu

5.1.6. Các hệ sinh thái vùng sinh thái Nam mũi Cà Mau

5.1.7. Các hệ sinh thái vùng sinh thái Tây mũi Cà Mau

5.2. Dự báo các điều kiện tương lai cho vùng biển Tây Nam Việt Nam

5.3. Định hướng quy hoạch không gian biển vùng biển Tây Nam Việt Nam

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu địa mạo và quy hoạch không gian biển Tây Nam Việt Nam là một lĩnh vực quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường. Vùng biển Tây Nam Việt Nam có khoảng 143 đảo nhỏ và diện tích khoảng 75.000 km², với nhiều hệ sinh thái đa dạng. Địa mạo biển không chỉ ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế như du lịch, khai thác khoáng sản mà còn liên quan đến an ninh quốc phòng. Việc nghiên cứu địa mạo giúp xác định các dạng tài nguyên và mối quan hệ trong sử dụng tài nguyên, từ đó đưa ra các giải pháp quy hoạch không gian biển hợp lý.

1.1. Đặc điểm địa mạo vùng biển Tây Nam Việt Nam

Địa mạo vùng biển Tây Nam Việt Nam được hình thành từ nhiều quá trình địa chất và khí hậu khác nhau. Các yếu tố như sóng, bão, và mực nước biển dâng đã tạo ra sự đa dạng trong các thành tạo địa mạo. Nghiên cứu cho thấy có 28 đơn vị địa mạo khác nhau, mỗi đơn vị có đặc điểm riêng về thành phần vật chất, nguồn gốc và hình thái. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc địa hình mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho quy hoạch không gian biển.

II. Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu tập trung vào vai trò của địa mạo trong quy hoạch không gian biển, phân tích các nhân tố hình thành địa hình và đặc điểm địa mạo bờ và đáy biển. Nghiên cứu cũng sẽ phân vùng sinh thái và các hệ sinh thái vùng biển Tây Nam Việt Nam dựa trên cơ sở địa mạo. Đặc biệt, việc định hướng quy hoạch không gian biển sẽ được thực hiện nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường.

2.1. Phân tích các nhân tố hình thành địa hình

Các nhân tố nội sinh và ngoại sinh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành địa hình vùng biển Tây Nam Việt Nam. Các yếu tố như địa chất, khí hậu, và động lực biển đã tạo nên sự đa dạng trong các thành tạo địa mạo. Nghiên cứu cho thấy rằng sự tương tác giữa các yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến hình thái địa hình mà còn tác động đến các hệ sinh thái biển. Việc hiểu rõ các nhân tố này là cần thiết để đưa ra các giải pháp quy hoạch không gian biển hiệu quả.

III. Định hướng quy hoạch không gian biển

Định hướng quy hoạch không gian biển vùng Tây Nam Việt Nam sẽ được thực hiện dựa trên các đặc điểm địa mạo và sinh thái. Các lĩnh vực quy hoạch bao gồm du lịch, giao thông vận tải, khai thác khoáng sản, và bảo tồn. Mục tiêu là tạo ra một hệ thống quy hoạch đồng bộ, cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Việc áp dụng các nguyên tắc quy hoạch không gian biển sẽ giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

3.1. Các lĩnh vực quy hoạch

Các lĩnh vực quy hoạch không gian biển bao gồm: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Giao thông vận tải; (3) Khai thác khoáng sản; (4) Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản; (5) Kinh tế ven biển; (6) Bảo tồn; (7) Sử dụng đặc biệt. Mỗi lĩnh vực sẽ được phân tích kỹ lưỡng để đảm bảo rằng các hoạt động phát triển không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn bảo vệ được môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu địa mạo phục vụ quy hoạch không gian biển có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Về mặt khoa học, nghiên cứu làm rõ vai trò của địa mạo trong việc hình thành các hệ sinh thái và phân vùng sinh thái. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho quy hoạch không gian biển, giúp sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Điều này không chỉ có lợi cho phát triển kinh tế mà còn đảm bảo an ninh quốc phòng cho vùng biển Tây Nam Việt Nam.

4.1. Đóng góp cho quy hoạch không gian biển

Nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng về địa mạo và tài nguyên biển, từ đó giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định chính xác trong quy hoạch không gian biển. Việc áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sẽ giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững cho vùng biển Tây Nam Việt Nam.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TONG QUAN VE CÁC VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nghiên cứu dia mao bờ va đáy bién 1. Thế giới a-Tổng quan về nghiên cứu dia mạo bờ và đáy biển Nghiên cứu dia mạo nói chung, địa mao bờ và day biến nói riêng đã được quan tâm bởi các triết gia Hi Lạp từ trước Công nguyên [96] và phát triển mạnh vào cuối thé ky XIX- đầu thé kỷ XX [2, 72, 75, 81, 99].

Đến giữa thế ky XIX, thuật ngữ dia mao (geomorphology) đã trở thành một bộ phận của dia lý tự nhiên (một bộ phận cua địa lý tự nhiên giống như khí hậu, thủy văn thé nhưỡng, sinh vật) và cùng ton tại với địa lý tự nhiên bao gồm địa lý tự nhiên, địa lý tự nhiên tổng hợp, hay cảnh quan hoc[74]. Sau Chién tranh Thé gidi lần thứ II, nghiên cứu địa mạo biển và đại dương đã phát triển mạnh mẽ. Những công trình xuất bản về địa mao bờ và đáy biển kinh điển mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý thuyết lẫn thực tiễn [130, 132, 91]. Những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, các nghiên cứu địa mạo bờ và đáy biên tiếp tục được phát triển dựa trên những nén tang lý thuyết (ví dụ, thuyết kiến tạo mảng) và các phương pháp nghiên cứu hiện đại (ví dụ, phương pháp và kỹ thuật hiện đại: đồng vị phóng xạ, side scan sona, v.

Có thé dẫn ra một số công trình về địa mạo bờ và đáy biển ở quy mô toàn cau [75, 107, 112], châu lục [117]. Hay các nghiên cứu địa mạo bờ và đáy biển ứng dụng, đặc biệt trong lập bản đồ môi trường sống/sinh cảnh bám đáy (benthic habitat) bờ và đáy biển [94]. b- Nghiên cứu và thành lập bản đồ địa mạo bờ và đáy biển. Các sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu địa mạo nói chung, cũng như địa mạo bờ và đáy biển nói riêng, là bản đồ địa mao.

Mặc dù được chính thức xuất hiện thuật ngữ địa mạo từ giữa thế kỷ XIX và cơ sở lý thuyết ngày càng hoàn thiện, nhưng đến nay các cách thức và nguyên tắc thành lập bản đồ địa mạo vẫn chưa được thong nhất. Sự không thống nhất này được thé hiện cả ở nguyên tắc thành lập và cách biéu diễn các đơn vị địa mạo lên bản đô. Trong khi các học giả thuộc Liên Xô và các nước 12 trong phe Xã hội Chủ nghĩa trước đây (có thé gọi là Phương Đông) đều có một số nguyên tắc thành lập bản đồ địa mạo và các biéu diễn các đơn vị địa mạo lên bản đồ băng nền màu chất lượng hoặc nét chải và các ký hiệu khác, thì các học giả Phương Tây lại chú ý nhiều đến hình thái và thể hiện trên bản đồ khá tự do về mặt ranh giới các đơn vị địa mạo. Như đã đề cập ở trên, bản đồ địa mạo đáy biển khá đầy đủ cho toàn bộ đáy đại dương thế giới đầu tiên được O.

Leontyev [130] thành lập theo nguyên tắc kiến trúc-hình thái vào năm 1975 ở mức độ khái quát, với 4 đơn vị kiến trúc cấp I (cấp hành tinh) là: 1) Rìa lục địa ngập nước; 2) Vùng chuyền tiếp từ lục địa sang đại đương; 3) Dãy núi giữa đại dương; và 4) Lòng chảo đại dương. Sau đó, theo nguyên tắc này, các nhà địa mạo Liên Xô (trước đây) đã thành lập bản đồ địa mạo đáy đại dương thế giới ở tỷ lệ 1:15. Vào năm 1979, cũng theo nguyên tắc kiến trúc-hình thái, G. Agapova và nnk cũng đã thành lập bản đồ địa mạo đáy đại dương, nhưng phân chia các đơn vị địa mạo cấp 11a: 1) Thêm lục dia; 2) Sườn lục địa và đới chuyền tiếp lục địa-đại dương; 3) Đại dương nước sâu; và 4) Dãy núi giữa đại dương (trích từ Chương 6 của P.

Trong khi đó, các học giả Phương Tây lai sử dụng nguyên tắc hình thái dé thé hiện các đơn vị địa mạo đáy biển. Gần đây, vào năm 2015, đại diện từ các chương trình lập bản đồ đáy biển của Na Uy, Ireland và Vương Quốc Anh đã đưa ra bảng chú giải cho các bản đồ ở tỷ lệ khác nhau gồm 2 phan: Hình thái (Morphology) va Dia mạo (Geomorphology). Các đặc điểm 'Hình thái' là những đặc điểm được đặc trưng bởi các thuộc tính vật lý của chúng (ví dụ: hình dạng, kích thước, kết cấu) và các đặc điểm 'Địa mạo' là những đặc điểm được xác định bởi nguồn sốc quá trình của chúng và/hoặc môi trường chính mà chúng được hình thành (T.Thorsnes và nnk. Thực chất, đây là nguyên tắc hình thái-nguồn sốc.

Mặc dù đưa ra bản chú giải gồm 2 thành phan khá chi tiết để thành lập bản đồ dia mạo đa tỷ lệ (Multiple scales) cho đa mục đích (Multiple purposes), nhưng biểu diễn ở mức độ nào trên các bản đồ tỷ lệ khác nhau lại chưa được làm rõ, đồng thời cũng chưa đưa ra một hình mẫu nào cho các bản đồ dia mạo bờ và đáy biên ở các tỷ lệ nhỏ, trung bình, và lớn. 13 Cả lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy rằng, dé xây dựng dược bảng chu giải cho ban dé địa mạo bờ và đáy biển nói riêng, cũng như cho các lãnh thé khác, dù ở bất kỳ tỷ lệ nao, trước tiên cần phải phân loại địa hình. Cho đến nay, việc phân loại địa hình bờ biển khá thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Dựa vào các nhân tố (nội sinh hay ngoại sinh) và quá trình (phá hủy/bóc mòn hay xây dựng/tích tụ) thành tạo, A.

lonhin và nnk (1961) - trích theo O. Leontyev và nnk., 1975) đã chia ra ba nhóm lớn là: 1) bờ được hình thành do các quá trình trên cạn và kiến tạo và ít bị biến đổi do biển (hoặc bờ nguyên sinh, theo F. Shepard, 1973 [91], trích từ E Bird, 2000); 2) Bờ được hình thành chủ yếu do tác động của các nhân tố không phải sóng: và 3) bờ được hình thành chủ yếu do tác động của sóng (cả nhóm 2 và 3 được gộp lại là bở thứ sinh, theo F. Shepard, 1973, trích từ E.

Sau đó it lâu, O. Leontyev và nnk. (1977) đã chia ra 5 nhóm kiểu bờ biển, gồm: (1) Bờ bién không bị hoặc ít bị thay đổi do biên; (2) Bờ biển bóc mòn-mài mòn; (3)Bờ biển mài mòn; (4) Bờ biển mài mòn-tích tu; và (5) Bờ biển tích tụ. Về van đề biéu diễn các đơn vi địa mạo trên bản đồ ở các tỷ lệ khác nhau, A.

Spiridonov (1985) đã đưa ra khá rõ ràng là: ở tỷ lệ nhỏ và khái quát (1:500.000 va nhỏ hơn) được lập cho các khu vực lớn (quốc gia, khu vực và lớn hơn) và đơn vị địa mao được thé hiện trên ban đồ là kiều và nhóm kiểu hình thái-nguồn sốc hoặc kiến trúc-hình thái địa hình. Trên ban đồ tỷ lệ trung bình (ty lệ 1:250.000) biểu diễn các yếu tố, dang và phức hệ dạng địa hình, tuổi của chúng và thành phan vật chat đề đánh giá điều kiện tổ chức lãnh thé. Trong khi đó, dé thành lập ban đồ địa mạo bờ biển và đáy biến gần bờ ở tỷ lệ lớn và trung bình, O. Leontyev va nnk.

(1975) [130] đã đề xuất bang chú giải gồm 2 phan: 1) Lục địa ven biển; và 2) Các yếu tố động lực và hình thái bờ biển. Hiện nay, các nhà địa mạo Việt Nam đã, đang và sẽ áp dụng phân chia này cho các vùng biển ở nước ta. Tại Việt Nam a-Tổng quan nghiên cứu địa mạo trên toàn lãnh thổ Việt Nam Thời phong kiến, ở nước ta chỉ có một số mô tả về hình thái- động lực tại các vùng cửa sông và các đảo trong một số văn liệu [8, 68]. Nghiên cứu biên, trong đó có địa mạo biển, được bắt đầu từ những năm 20 của thế ki XX thông qua một SỐ chương 14 trình như: khảo sát điều tra xác định độ sâu đáy biển, thu thập mẫu trầm tích vịnh Bắc Bộ giai đoạn 1923-1927; vào các năm 1927, 1930, 1933 đã có các chuyến khảo sát địa hình, địa chất nhiều khu vực trên Biển Đông như: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đảo Phú Quốc bằng tàu nghiên cứu khoa học cứu khoa học De Lanessan và các tàu hai quân Pháp (Krempf A.

Do hoàn cảnh lịch sử, sau năm 1954 công tác nghiên cứu biên được tiến hành không đồng đều tại 2 miền. Ở miền Bắc, giai đoạn này nghiên cứu biển đã hợp tác và nhận hỗ trợ các nước xã hội chủ nghĩa: năm 1959 đã thành lập Trạm nghiên cứu vịnh Bắc Bộ cùng Trung Quốc hop tác điều tra nghiên cứu tông thé (trong đó phan địa hình) vịnh Bắc Bộ giai đoạn 1959-1965 [3]. Cũng trong thời gian này, một số nhà khoa học nước ngoài cũng đã tiến hành nghiên cứu địa mao bờ biển ở phía Bắc. Đáng quan tâm là công trình của Viện sĩ Zencovich V.

“Về bờ biển nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” và đã đưa ra nhận xét về nguồn gốc đụn cát ở Quảng Bình [72]. Trước đó, Trần Đình Gián khi viết về đặc điểm địa mạo Bắc Trung Bộ và phương hướng sử dụng nó đã cho rằng các đồng bằng phía Bắc (Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình) là những tích tụ kiểu đầm phá đã hoàn thành, còn ở phía nam (Quảng Trị, Thừa Thién-Hué) thì chưa hoàn thành [10]. Ở miền Nam, đến năm 1959 có cuộc điều tra vùng biển Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác giữa Hoa Kì và chính quyền Sai Gòn kéo dai 4 tháng trong phạm vi từ 5° tới 16° vĩ độ Bắc bằng tàu nghiên cứu khoa học của Viện Hải dương hoc Scrip, California đã nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên (bao gồm cả vật lý, hoá học, sinh vật, địa chất và đo sâu đáy biên) đầu tiên ở vùng biển phía Nam. Về mặt địa mao, đã xây dựng bản đồ độ sâu vùng biển phía nam Việt Nam (phía nam vĩ tuyến 16° vi độ Bắc) khá chỉ tiết ở tỉ lệ xấp xi 1:2.

Sau năm 1975 Nhà nước đã cho triển khai nhiều chương trình nghiên cứu về địa mạo ven biển như của Trịnh Phùng và nnk, 1975 [40]; Nguyễn Thanh Sơn, Đinh Văn Huy, 1991 [44]; Nguyễn Thế Tiệp, 1990, 2008 [58, 60]; Trần Đức Thạnh và nnk, 1997 [56]; Nguyễn Thế Tiệp, 1990 [60],. và về các quá trình địa mạo và động lực phát triển địa hình bờ biển Việt Nam trong nhiều đề tài, dự án khác [1, 23, 39, 64]. 15 Đối với địa mạo biển và đáy biển được thực hiện qua các đề tài, dự án khác nhau “Địa mạo thềm lục địa Đông Dương và các vùng kế cận” của Lưu Tỳ [67] và “Địa mạo thêm lục dia Trung Bộ” của Nguyễn Thế Tiệp [59].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu địa mạo và quy hoạch không gian biển Tây Nam Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về địa mạo và quy hoạch không gian biển trong khu vực Tây Nam Việt Nam. Tác giả phân tích các yếu tố địa lý, khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường biển, từ đó đề xuất các giải pháp quy hoạch hợp lý nhằm bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên biển. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc nghiên cứu địa mạo mà còn nhấn mạnh lợi ích của quy hoạch không gian biển trong việc ứng phó với các thách thức hiện tại.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết **"Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các lợi ích từ việc phục hồi rừng ngập mặn đối với nâng cao tính bền vững vùng ven biển lấy ví dụ xã Đa Lộc huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa" để tìm hiểu về vai trò của rừng ngập mặn trong việc bảo vệ môi trường biển. Ngoài ra, bài viết **"Luận văn thạc sĩ quy hoạch và quản lý tài nguyên nước nghiên cứu lập quy trình vận hành hệ thống thủy lợi thuộc dự án Gò Công Tiền Giang để thích ứng với nước biển dâng do biến đổi khí hậu" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình quản lý tài nguyên nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Cuối cùng, bài viết **"Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bãi bồi ven biển trên địa bàn huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định" sẽ cung cấp thêm thông tin về việc sử dụng đất bãi bồi ven biển một cách hiệu quả. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến quy hoạch và bảo vệ môi trường biển.