CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TONG QUAN VE CÁC VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nghiên cứu dia mao bờ va đáy bién 1. Thế giới a-Tổng quan về nghiên cứu dia mạo bờ và đáy biển Nghiên cứu dia mạo nói chung, địa mao bờ và day biến nói riêng đã được quan tâm bởi các triết gia Hi Lạp từ trước Công nguyên [96] và phát triển mạnh vào cuối thé ky XIX- đầu thé kỷ XX [2, 72, 75, 81, 99].
Đến giữa thế ky XIX, thuật ngữ dia mao (geomorphology) đã trở thành một bộ phận của dia lý tự nhiên (một bộ phận cua địa lý tự nhiên giống như khí hậu, thủy văn thé nhưỡng, sinh vật) và cùng ton tại với địa lý tự nhiên bao gồm địa lý tự nhiên, địa lý tự nhiên tổng hợp, hay cảnh quan hoc[74]. Sau Chién tranh Thé gidi lần thứ II, nghiên cứu địa mạo biển và đại dương đã phát triển mạnh mẽ. Những công trình xuất bản về địa mao bờ và đáy biển kinh điển mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý thuyết lẫn thực tiễn [130, 132, 91]. Những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, các nghiên cứu địa mạo bờ và đáy biên tiếp tục được phát triển dựa trên những nén tang lý thuyết (ví dụ, thuyết kiến tạo mảng) và các phương pháp nghiên cứu hiện đại (ví dụ, phương pháp và kỹ thuật hiện đại: đồng vị phóng xạ, side scan sona, v.
Có thé dẫn ra một số công trình về địa mạo bờ và đáy biển ở quy mô toàn cau [75, 107, 112], châu lục [117]. Hay các nghiên cứu địa mạo bờ và đáy biển ứng dụng, đặc biệt trong lập bản đồ môi trường sống/sinh cảnh bám đáy (benthic habitat) bờ và đáy biển [94]. b- Nghiên cứu và thành lập bản đồ địa mạo bờ và đáy biển. Các sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu địa mạo nói chung, cũng như địa mạo bờ và đáy biển nói riêng, là bản đồ địa mao.
Mặc dù được chính thức xuất hiện thuật ngữ địa mạo từ giữa thế kỷ XIX và cơ sở lý thuyết ngày càng hoàn thiện, nhưng đến nay các cách thức và nguyên tắc thành lập bản đồ địa mạo vẫn chưa được thong nhất. Sự không thống nhất này được thé hiện cả ở nguyên tắc thành lập và cách biéu diễn các đơn vị địa mạo lên bản đô. Trong khi các học giả thuộc Liên Xô và các nước 12 trong phe Xã hội Chủ nghĩa trước đây (có thé gọi là Phương Đông) đều có một số nguyên tắc thành lập bản đồ địa mạo và các biéu diễn các đơn vị địa mạo lên bản đồ băng nền màu chất lượng hoặc nét chải và các ký hiệu khác, thì các học giả Phương Tây lại chú ý nhiều đến hình thái và thể hiện trên bản đồ khá tự do về mặt ranh giới các đơn vị địa mạo. Như đã đề cập ở trên, bản đồ địa mạo đáy biển khá đầy đủ cho toàn bộ đáy đại dương thế giới đầu tiên được O.
Leontyev [130] thành lập theo nguyên tắc kiến trúc-hình thái vào năm 1975 ở mức độ khái quát, với 4 đơn vị kiến trúc cấp I (cấp hành tinh) là: 1) Rìa lục địa ngập nước; 2) Vùng chuyền tiếp từ lục địa sang đại đương; 3) Dãy núi giữa đại dương; và 4) Lòng chảo đại dương. Sau đó, theo nguyên tắc này, các nhà địa mạo Liên Xô (trước đây) đã thành lập bản đồ địa mạo đáy đại dương thế giới ở tỷ lệ 1:15. Vào năm 1979, cũng theo nguyên tắc kiến trúc-hình thái, G. Agapova và nnk cũng đã thành lập bản đồ địa mạo đáy đại dương, nhưng phân chia các đơn vị địa mạo cấp 11a: 1) Thêm lục dia; 2) Sườn lục địa và đới chuyền tiếp lục địa-đại dương; 3) Đại dương nước sâu; và 4) Dãy núi giữa đại dương (trích từ Chương 6 của P.
Trong khi đó, các học giả Phương Tây lai sử dụng nguyên tắc hình thái dé thé hiện các đơn vị địa mạo đáy biển. Gần đây, vào năm 2015, đại diện từ các chương trình lập bản đồ đáy biển của Na Uy, Ireland và Vương Quốc Anh đã đưa ra bảng chú giải cho các bản đồ ở tỷ lệ khác nhau gồm 2 phan: Hình thái (Morphology) va Dia mạo (Geomorphology). Các đặc điểm 'Hình thái' là những đặc điểm được đặc trưng bởi các thuộc tính vật lý của chúng (ví dụ: hình dạng, kích thước, kết cấu) và các đặc điểm 'Địa mạo' là những đặc điểm được xác định bởi nguồn sốc quá trình của chúng và/hoặc môi trường chính mà chúng được hình thành (T.Thorsnes và nnk. Thực chất, đây là nguyên tắc hình thái-nguồn sốc.
Mặc dù đưa ra bản chú giải gồm 2 thành phan khá chi tiết để thành lập bản đồ dia mạo đa tỷ lệ (Multiple scales) cho đa mục đích (Multiple purposes), nhưng biểu diễn ở mức độ nào trên các bản đồ tỷ lệ khác nhau lại chưa được làm rõ, đồng thời cũng chưa đưa ra một hình mẫu nào cho các bản đồ dia mạo bờ và đáy biên ở các tỷ lệ nhỏ, trung bình, và lớn. 13 Cả lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy rằng, dé xây dựng dược bảng chu giải cho ban dé địa mạo bờ và đáy biển nói riêng, cũng như cho các lãnh thé khác, dù ở bất kỳ tỷ lệ nao, trước tiên cần phải phân loại địa hình. Cho đến nay, việc phân loại địa hình bờ biển khá thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Dựa vào các nhân tố (nội sinh hay ngoại sinh) và quá trình (phá hủy/bóc mòn hay xây dựng/tích tụ) thành tạo, A.
lonhin và nnk (1961) - trích theo O. Leontyev và nnk., 1975) đã chia ra ba nhóm lớn là: 1) bờ được hình thành do các quá trình trên cạn và kiến tạo và ít bị biến đổi do biển (hoặc bờ nguyên sinh, theo F. Shepard, 1973 [91], trích từ E Bird, 2000); 2) Bờ được hình thành chủ yếu do tác động của các nhân tố không phải sóng: và 3) bờ được hình thành chủ yếu do tác động của sóng (cả nhóm 2 và 3 được gộp lại là bở thứ sinh, theo F. Shepard, 1973, trích từ E.
Sau đó it lâu, O. Leontyev và nnk. (1977) đã chia ra 5 nhóm kiểu bờ biển, gồm: (1) Bờ bién không bị hoặc ít bị thay đổi do biên; (2) Bờ biển bóc mòn-mài mòn; (3)Bờ biển mài mòn; (4) Bờ biển mài mòn-tích tu; và (5) Bờ biển tích tụ. Về van đề biéu diễn các đơn vi địa mạo trên bản đồ ở các tỷ lệ khác nhau, A.
Spiridonov (1985) đã đưa ra khá rõ ràng là: ở tỷ lệ nhỏ và khái quát (1:500.000 va nhỏ hơn) được lập cho các khu vực lớn (quốc gia, khu vực và lớn hơn) và đơn vị địa mao được thé hiện trên ban đồ là kiều và nhóm kiểu hình thái-nguồn sốc hoặc kiến trúc-hình thái địa hình. Trên ban đồ tỷ lệ trung bình (ty lệ 1:250.000) biểu diễn các yếu tố, dang và phức hệ dạng địa hình, tuổi của chúng và thành phan vật chat đề đánh giá điều kiện tổ chức lãnh thé. Trong khi đó, dé thành lập ban đồ địa mạo bờ biển và đáy biến gần bờ ở tỷ lệ lớn và trung bình, O. Leontyev va nnk.
(1975) [130] đã đề xuất bang chú giải gồm 2 phan: 1) Lục địa ven biển; và 2) Các yếu tố động lực và hình thái bờ biển. Hiện nay, các nhà địa mạo Việt Nam đã, đang và sẽ áp dụng phân chia này cho các vùng biển ở nước ta. Tại Việt Nam a-Tổng quan nghiên cứu địa mạo trên toàn lãnh thổ Việt Nam Thời phong kiến, ở nước ta chỉ có một số mô tả về hình thái- động lực tại các vùng cửa sông và các đảo trong một số văn liệu [8, 68]. Nghiên cứu biên, trong đó có địa mạo biển, được bắt đầu từ những năm 20 của thế ki XX thông qua một SỐ chương 14 trình như: khảo sát điều tra xác định độ sâu đáy biển, thu thập mẫu trầm tích vịnh Bắc Bộ giai đoạn 1923-1927; vào các năm 1927, 1930, 1933 đã có các chuyến khảo sát địa hình, địa chất nhiều khu vực trên Biển Đông như: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đảo Phú Quốc bằng tàu nghiên cứu khoa học cứu khoa học De Lanessan và các tàu hai quân Pháp (Krempf A.
Do hoàn cảnh lịch sử, sau năm 1954 công tác nghiên cứu biên được tiến hành không đồng đều tại 2 miền. Ở miền Bắc, giai đoạn này nghiên cứu biển đã hợp tác và nhận hỗ trợ các nước xã hội chủ nghĩa: năm 1959 đã thành lập Trạm nghiên cứu vịnh Bắc Bộ cùng Trung Quốc hop tác điều tra nghiên cứu tông thé (trong đó phan địa hình) vịnh Bắc Bộ giai đoạn 1959-1965 [3]. Cũng trong thời gian này, một số nhà khoa học nước ngoài cũng đã tiến hành nghiên cứu địa mao bờ biển ở phía Bắc. Đáng quan tâm là công trình của Viện sĩ Zencovich V.
“Về bờ biển nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” và đã đưa ra nhận xét về nguồn gốc đụn cát ở Quảng Bình [72]. Trước đó, Trần Đình Gián khi viết về đặc điểm địa mạo Bắc Trung Bộ và phương hướng sử dụng nó đã cho rằng các đồng bằng phía Bắc (Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình) là những tích tụ kiểu đầm phá đã hoàn thành, còn ở phía nam (Quảng Trị, Thừa Thién-Hué) thì chưa hoàn thành [10]. Ở miền Nam, đến năm 1959 có cuộc điều tra vùng biển Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác giữa Hoa Kì và chính quyền Sai Gòn kéo dai 4 tháng trong phạm vi từ 5° tới 16° vĩ độ Bắc bằng tàu nghiên cứu khoa học của Viện Hải dương hoc Scrip, California đã nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên (bao gồm cả vật lý, hoá học, sinh vật, địa chất và đo sâu đáy biên) đầu tiên ở vùng biển phía Nam. Về mặt địa mao, đã xây dựng bản đồ độ sâu vùng biển phía nam Việt Nam (phía nam vĩ tuyến 16° vi độ Bắc) khá chỉ tiết ở tỉ lệ xấp xi 1:2.
Sau năm 1975 Nhà nước đã cho triển khai nhiều chương trình nghiên cứu về địa mạo ven biển như của Trịnh Phùng và nnk, 1975 [40]; Nguyễn Thanh Sơn, Đinh Văn Huy, 1991 [44]; Nguyễn Thế Tiệp, 1990, 2008 [58, 60]; Trần Đức Thạnh và nnk, 1997 [56]; Nguyễn Thế Tiệp, 1990 [60],. và về các quá trình địa mạo và động lực phát triển địa hình bờ biển Việt Nam trong nhiều đề tài, dự án khác [1, 23, 39, 64]. 15 Đối với địa mạo biển và đáy biển được thực hiện qua các đề tài, dự án khác nhau “Địa mạo thềm lục địa Đông Dương và các vùng kế cận” của Lưu Tỳ [67] và “Địa mạo thêm lục dia Trung Bộ” của Nguyễn Thế Tiệp [59].