CHƯƠNG 1. TONG QUAN “Tổng quan tình hình nghiên cứu biến đổi khí hậu trên thé gi “Các công trình nghiên cứu quy mô toàn cầu về hiện tượng biển đổi khí hậu đã Auge các nhà khoa học nỗi iếng trên thể giới tiền hành từ đầu thập kỹ 90 của thể kỷ trước. Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janciro năm 1992 đã. thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tẾ nhằm cứu văn tinh trạng “xấu đi” nhanh chóng của bằu khí quyền trải đất.
Từ đó Tổ chức liên Chính. phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC) đã được thành lập, thu hút sự. tham gia của hing ngàn nhà khoa học quốc tế. Tại Hội nghị Kyoto năm 1997, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua vào đầu thing 2/2005 đã được nguyên thủ 165 quốc gia trong đó có Việt Nam phé chuẩn.
Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005, Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của IPCC trình lên Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, nguyên nhân củahiện tượng biển đổikhí hậu do con người gây ra chiếm 90%, do tự nhiên gây ra chiếm 10 %4. Cũng theo bio cáo của IPCC. trong vòng 85 năm (từ 1920 đến 2005) nhiệt độ trung bình trên bề mặt trái đất đã ấm lên gin 1°C và tăng rit nhanh trong khoảng 25 năm nay ti 1980 đến 2005) và đưa ra dự bio đến cuỗi thể kỹ XXI, nhiệt độ bé mặt Trái đắt ẽ tăng thêm tir 14°C đến 4 °C, mực nước biển sẽ dâng thêm khoảng 28 em đến 43 em, ỗi đa có thể lên tới Sem, Nhiễu nhà khoa học côn đưa 1a những dự báo mục nước bién dang đảng nhanh hơn nhiều, nhất là do hiện tượng tan băng đang xây ra với tốc độ đáng kinh ngạc trong thời gian gin đây. Các nhà khoa học Anh dự báo mực nước biển cuối thé ky XXI có thể tăng thêm 163 em - tức ki gắp đôi số liệu dự báo của IPCC.
Trong thé ky XX1, nhiệt độ thé giới có thể tăng thêm 5 °C, tương đương với sự thay đổi nhiệt độ từ thời kỳ băng hà, thời kỳ phần lớn châu Âu và Bắc Mỹ còn nằm dưới lớp bing dầy 1 km. “Trong khi đó, ngưỡng biển đổi khí hậu nguy hiém là tăng thêm 2 °C. Sự nồng lên của trái đất làm cho bang tuyết của các dãy Himalaya, ving Nam Cực, Bắc Cục và các khu vục có băng tuyết khác tan chảy. Ví dụ ở Nam Cục, tháng 3/2002, các nha khoa học tận mắt chứng kiến khối băng 500 tỷ tấn tan rã thành hàng nghìn mảnh; 6 Bắc Cực, mila hè 2002, lượng băng tan ở Greenland cao gấp đổi so.
với 1992, điện tích bing tan đã lên tới 655. Hơn 110 sông bang và những. cánh đồng bing vĩnh cửu ở bang Montana đã biến mat trong vòng 100 năm qua. Nếu độ tan chảy duy trì như hiện nay thì các sông bang sẽ hiu như biển mắt khỏi dãy Alpes vào năm 2050, Mùa hè 2002, các nhà khoa học ghi nhận một khối băng 3,5 triệu tấn tách ra, gây ra lũ bang tir diy nói Mali trên đỉnh Kavkaz thuộc Nga.
Trong vòng 13 năm gin day, số băng tan ở châu Âu tăng gắp đôi so với lượng băng, tan của 30 năm trước (1961-1990). Các số liệu quan trắc mực nước bi thé giới cho thấy trong khoảng thời gian 40 năm (1962-2003), mực nước biển đã tăng thêm 7⁄2 cm (trung bình mỗi năm tăng 1,8 mm) “rước nguy cơ này các nhà khoa học thể giới đã mô phỏng tính toán 6 kịch bản dự bảo tăng nhiệt độ và mực nước biển. Theo kịch bản số 4, nếu hàm lượng phát thải khi nhà kính năm 2100 bằng 850 ppm thi nhiệt độ trừng bình toàn cẫu của bE mặt tri đất sẽ ting 2,8 °C so với năm 2000 và mực nước biên sẽ dâng từ 0,21 em đến 0,48 m, gây một thảm hoạ không lường trước cho nhân loại, đó là chưa kẻ từ nay đến lúc đô biến đổi khí hậu sẽ tạo ra bão lu, hạn hân, sụt lỡ đắt, nhiễm mặn, bệnh tật. cho bao nhiêu cư dan trên hảnh tinh ở các vùng đắt thấp, ma trước hết đổi tượng để bị tôn thương nhất là các nước kém phát triển và người nghèo là đại bộ phận của nhân lại (Ca thể giới hiện có hơn một nữa trong số 7 ỷ người đang sing ở vũng duyên hải với phạm vi chiều rộng 100 km thuộc vàng ven bờ biển.
Báo cáo phát triển con người 2007/2008 của UNDP cảnh báo rằng nếu nhiệt độ tăng lên từ 3 °C đến 4 °C, các quốc đảo nhỏ và các nước đang phát triển sẽ bị anh hưởng nghiêm trọng. Khi mực nước biển dâng lên khoảng 1,0 m, Việt Nam sẽ có khoảng 22 triệu người bj mắt nhà cửa; vùng trăng Ai Cập có khoảng 6 triệu người mắt nha cửa và 4.500 km? đất ngập lụt; ở Bangladesh có khoảng 18 % diện tích dat ngập ting, tác động tới 70 triệu din. Trong báo cáo cũng cho ring không chỉ những nước đang phất triển ảnh hưởng mà những nước đã phát triển cũng không tránh khỏi thảm họa biển đổi khí Trước mit, băng tan sẽ de dọa hơn 40 % dân sé toàn thể giới. Mặt khác, biến đổi khí hậu sẽ làm cho năng suất nông nghiệp giảm, thời tết cực đoan tăng thiểu nước ngọt trim trọng trên toàn thể giới, hệ sinh thi tan vỡ và bệnh tật gia tăng "Những nước như Việt Nam, Bangladesh, Myanmar, Ai Cập.
bị nh hưởng nhiều nhất. Nguy cơ bão lụt, thiên tai sẽ làm cho những nước này rit khó khăn dé phát tiển kinh tế, day lãi đói ng. “Theo Báo cáo của IPCC, danh sich 10 hành phố bị de do nhiều nhất bởi biển đổi khí hậu bao gồm Calcutta và Bombay của Án Độ, Dacca của Bangladesh, Thượng Hải, Quảng Châu của Trung Quốc, TP.Hồ Chi Minh của Việt Nam, Bangkok của Thái Lan và Yangon của Myanmar. Các nhà khoa học thể giới cũng xr bảo thủ đô Băng Cốc (Thái Lan) tong vòng 20 năm nữa sẽ bị ngập và hiện Thái Lan không đủ thời gian để chuyển thủ đô sang nơi khác, ‘Tai hội thảo “Biến đổi khí hậu và phát triển con người” do Viện Khoa học Khí.
tượng thủy văn và môi tường, Cục Báo vệ môi trường, Viện Chiến lược Chính sich tài nguyên và môi trường phổi hợp tô chức ngày 5/12/2008 tại TP. Hồ Chí Minh, đông John Hendra, diễu phối viên thường trả của Lí hiệp quốc tại Việt Nam cho biết nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng lên từ 2 "C đến 3 °C so với mức hiện nay sẽ có thêm 600 triệu người ở châu Phi bị đói, hơn 300 triệu người phải rời bỏ nhà cửa do bão lũ và có thêm 400 triệu người bị bệnh truyi nhiễm như sốt rét, viêm mảng não, sốt xuất huyết 185 triệu người chết “Trước nguy cơ nổi trên, Liên hợp quốc đã kêu goi tit cả các quốc gi trên thể giới đông tâm nhất trí để giải quyết vẫn đề này. Theo các nhà khoa học, các giải pháp han chế tỉnh trạng biễn đổi khí hậu toàn cầu cần di theo hai hướng sau: thứ nhất à làm giảm tác động của biến đổi khí hậu và thứ hai là thích ứng với biến đổi khí hậu Nhật Bản a quốc gia có hệ thống công trình phỏng chống thiên tai kiên cổ nhất thé giới nhưng với tốc độ mục nước biển ding trung bình 4mm đến Smnvndm, cùng với gia tăng vé tin suit xuất hiện và cường độ ác ligt của các trận bão thi nguy cơ làm gián đoạn các hoạt động sản xuất sé rat cao. "Nước Anh với hệ théng công trình chống lũ có khả năng chống lũ 100 năm và lũ 200 năm nhưng với điễn biến của biến đổi khí hậu và nước biến ding thì bệ thông này không có khả năng lúễm soát.
Kết quả tỉnh toán dự bảo cho biết số hộ có nguy cơ bị lũ đe dọa tăng từ 2 trigu hộ hiện nay lên 3,5 triệu hộ với các kịch bin biển đổi khí hậu nêu hệ thống công trình không được cũng cổ. © Bangladesh, Chính phủ có chương trinh đầu tư 6,5 triệu USD để đối pho với các ving đất ven biển ngày cảng bị nhiễm mặn. Chính phủ cũng đề xuất dự án nâng cao 800 km đường bộ lên từ 0,5 m đến 1,0 m so với mức hiện tại để trinh bị ngập do nước biển ding với chỉ phí đầu tư khoảng 128 tỉ USD. Biến đội khí hậu toàn cầu đã và dang tác động trực tiếp đến lý của người dân ở mọi nơi trên thé giới.
Dé đối phó và thích ứng với tác động của biển đổi khí hi, người dân đã tim ra nhiều giải pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên và mỗi trường sống của họ. Dưới đây là một số ví dụ điễn hình phó với tỉnh trang hạn hin triển miễn, nông din ở Ecuado dio các 3 chứa nước hình chữ U rên sườn dỗc để ei, chứa nguồn nước tong mùa mưa giúp tăng cường lượng nước bổ sung xuống ting nước ngầm đề từ đó lại khai thác nước ngầm sử dụng trong mùa khô còn người dân ở Ấn Độ lại tăng cường, tư các hình thức trữ nước, thu góp nước quy mô nhỏ để trừ nước mưa ~ Để đối pho với sinh trang ứng ngập, người dân ở Tây Bengal (An Độ) thưởng phải làm những hệ thống cột chống rất cao đẻ có chỗ lánh nạn khi lũ lụt kéo đến. Bangladesh nông đần làm những ngôi nhà nổi có thé te nâng lên khi mực nước lỡ dâng cao. Còn ở Nepal các cộng dồng din cư xây dựng các thấp canh cảnh báo lũ sớm, đóng góp nhân công và nguyên vật liệu để gia cổ các bờ kè không cho các hồ.
băng bị vỡ do tan bing. “Trong các nghiên cứu của IPCC, UNDP về các kịch bản biển đổi khí hậu thì hệ thống các mô hình toán khí động bọc khí quyển, mô hình thủy động lực học cho các đại đương được xây dựng và sử dụng để đánh giá định lượng tác động của biển đổi M lu đến khí hậu toàn cả „ mực nước các đại đương trên thé giới. Với từng ving lãnh th, từng quốc gia trên cơ sở các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ có các nghiên cứu chỉ gt đánh giá tác động của biển đổi khi hậu đến từng yêu 6 khí tượng (nhiệt độ, mưa, độ am, bốc hơi.), điều kiện thủy văn, hải văn (đồng chảy trong sông, dao động triều, biến đỗi mực nước bién), Mô hình toán được sử dụng trong trường hợp này thường là mô hình thủy động lực học HEC (Mỹ), SOBEK (Ha Lan), MIKE (Dan Mạch), ISIS (Anh). Một số nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu.