Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Địa mạo học ứng dụng trong nửa cuối thế kỷ XX đã hình thành nhánh nghiên cứu địa mạo môi trường (Environmental Geomorphology), tập trung vào hai khía cạnh tương tác cốt lõi: tài nguyên địa mạo và tai biến địa mạo. Trong bối cảnh phát triển kinh tế biển và du lịch, tài nguyên địa mạo là đối tượng trực tiếp của du lịch địa học (Geotourism) – loại hình du lịch dựa vào các giá trị địa chất, địa mạo để thúc đẩy giáo dục môi trường và bảo tồn di sản (Geoconservation). Ngược lại, tai biến địa mạo là nhân tố giới hạn, chi phối mức độ an toàn cho các hoạt động du lịch và phát triển cơ sở hạ tầng.

Tại Việt Nam, dải ven biển tỉnh Bình Thuận nằm trong đới khí hậu khô hạn và bán khô hạn đặc trưng với lượng mưa trung bình năm thấp (khoảng trên dưới 1.000 mm/năm theo chuỗi số liệu khí tượng giai đoạn 2000–2019, trong đó 6 tháng mùa khô chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa cả năm). Khu vực này phân hóa địa hình sâu sắc, sở hữu các dạng địa hình Đệ tứ độc đáo như các cồn cát di động Hòa Thắng, hệ thống hồ Bàu Trắng, bãi cuội Bảy Màu, địa hình karst/giả karst Suối Tiên, và các vách bờ biển mài mòn - tích tụ. Tuy nhiên, các hoạt động du lịch tại địa phương thời gian qua chủ yếu mang tính truyền thống, tự phát, phát sinh xung đột giữa du lịch với hoạt động khai khoáng (khai thác sa khoáng titan trong tầng cát đỏ), xây dựng công trình và bảo tồn thiên nhiên. Các nghiên cứu trước đây tại khu vực chủ yếu tiếp cận theo hướng địa chất công trình, địa chất thủy văn hoặc đánh giá tài nguyên du lịch chung, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện dưới góc độ địa mạo môi trường gắn với du lịch địa học nhằm lượng hóa giá trị từng điểm di tích địa mạo cụ thể. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.

Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Làm rõ sự đa dạng, tính đặc thù của các dạng tài nguyên địa mạo và tai biến địa mạo cho định hướng phát triển du lịch địa học dải ven biển tỉnh Bình Thuận.
  • Nội dung nghiên cứu:
    1. Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu địa mạo môi trường phục vụ phát triển du lịch địa học.
    2. Phân tích và đánh giá sự đa dạng, tính đặc thù của tài nguyên địa mạo, đánh giá giá trị các di tích địa mạo nổi bật và các tai biến địa mạo liên quan trên dải ven biển tỉnh Bình Thuận.
    3. Đề xuất định hướng phát triển du lịch địa học và giải pháp bảo tồn trên cơ sở đánh giá các di tích địa mạo nổi bật tại khu vực nghiên cứu.
  • Luận điểm bảo vệ:
    • Luận điểm 1: Dải ven biển tỉnh Bình Thuận có nguồn tài nguyên địa mạo phong phú, đa dạng, đặc thù cả về hình thái, thành phần vật chất, nguồn gốc và tuổi, được phân chia thành 11 dạng với 52 di tích địa mạo thuộc 6 kiểu môi trường địa mạo khác nhau cùng tồn tại trong đới khí hậu bán khô hạn điển hình ở Việt Nam.
    • Luận điểm 2: 12 di tích địa mạo nổi bật (trong đó có 6 di tích thuộc kiểu môi trường bờ biển) đã được lựa chọn để đánh giá bán định lượng theo 5 nhóm tiêu chí (giá trị khoa học và nội tại, giá trị giáo dục, giá trị kinh tế, giá trị bảo tồn, giá trị bổ sung) làm cơ sở cho định hướng du lịch địa học với 4 cụm di sản, 3 vùng di sản, 4 tuyến du lịch địa học liên cụm và 2 tuyến liên vùng trên dải ven biển tỉnh Bình Thuận.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Địa hình dải ven biển tỉnh Bình Thuận.
  • Phạm vi khoa học: Tập trung vào các tài nguyên địa mạo, đặc biệt là các di tích địa mạo nổi bật và các tai biến địa mạo liên quan trực tiếp đến tài nguyên và hoạt động du lịch tại dải ven biển tỉnh Bình Thuận trong các thành tạo Đệ tứ (tuổi từ Pleistocen sớm đến Holocen muộn).
  • Phạm vi không gian: Dải ven biển tỉnh Bình Thuận với tổng diện tích nghiên cứu 1.393 km², bao gồm thành phố Phan Thiết, thị xã La Gi và các xã ven biển thuộc các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu khí tượng thủy văn được tổng hợp từ năm 2000 đến năm 2019; các đợt khảo sát thực địa được thực hiện trong giai đoạn làm luận án (tiêu biểu như đợt khảo sát thực địa cuối tháng 12/2018).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

  1. Về địa mạo môi trường: Khái niệm được D. R. Coates đề xuất năm 1971, xác định việc ứng dụng kiến thức địa mạo để giải quyết các vấn đề khi con người làm biến đổi địa hình. Tiếp đó, Cooke & Doornkamp (1974, 1990) xuất bản chuyên khảo Geomorphology in Environmental Management, phân tích địa mạo trong quy hoạch lãnh thổ. M. Panizza (1996) chuẩn hóa định nghĩa địa mạo môi trường là nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường trên quan điểm địa mạo, phân hóa thành hai trụ cột: tài nguyên địa mạo và tai biến địa mạo. Các nghiên cứu của Downs & Booth (2011), Graff (1996), Dongre, Tooth & Viles (2016), Ayala (2004), Hibbeler (2007), Cendrero & Panizza (1999) đã phát triển sâu về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), quản lý rủi ro thiên tai và tính bất ổn định địa mạo.
  2. Về du lịch địa học và di sản địa mạo: Khái niệm du lịch địa học được Hose đưa ra năm 1995, nhấn mạnh việc cung cấp dịch vụ giải thích địa học để du khách hiểu biết về địa mạo - địa chất vượt ra ngoài vẻ đẹp thẩm mỹ thuần túy. Năm 2001, tại Hội nghị Địa mạo Quốc tế lần thứ 5 ở Tokyo, Hiệp hội Địa mạo Quốc tế (IAG) thành lập nhóm nghiên cứu chuyên trách về di tích địa mạo (Geomorphosites). Thuật ngữ "Di tích địa mạo" (Geomorphosite) được Panizza (2001) định nghĩa là dạng địa hình có giá trị và trở thành tài nguyên địa mạo khi được xã hội sử dụng. Các phương pháp đánh giá bán định lượng di sản địa học, di tích địa mạo được phát triển qua các công trình của Pralong (2005), Reynard (2007, 2009, 2013), Pereira và đồng nghiệp (2007), Newsome & Dowling (2006, 2010), Newsome và cộng sự (2012), Pica và cộng sự (2017).

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam và khu vực nghiên cứu

  1. Về địa mạo và địa mạo môi trường: Các nghiên cứu nền tảng về cấu trúc địa mạo bờ biển và thềm lục địa Việt Nam được thực hiện bởi Lê Đức An (1979, 1982, 1986, 1999, 2012), Trần Đức Thạnh và nnk (1997), Lê Bá Thao (1977, 1990). Về tai biến địa mạo vùng bờ, Lê Xuân Hồng (1996, 1997) nghiên cứu xói lở bờ biển Việt Nam; Đặng Huy Râm (2002) nghiên cứu địa mạo trong quản lý môi trường ven biển Đà Nẵng - Quảng Ngãi; Vũ Văn Phái (2006, 2008, 2009, 2011) nghiên cứu quản lý môi trường đới bờ và địa mạo phục vụ du lịch.
  2. Tại khu vực ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận: Các công trình nghiên cứu địa chất, địa mạo của Đào Đình Bắc (1999) về địa hình pediment đới bán khô hạn; Uông Đình Khanh (2002) về địa mạo vùng đồi và đồng bằng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận; Đinh Xuân Thành (2012) về trầm tích Pliocen - Đệ tứ; Dương Thị Thanh Xuyến (2017) về quy hoạch tổng thể đới bờ; Đinh Văn Huy và nnk (2018) về di sản địa chất - địa mạo dải ven biển Bình Thuận (đề tài VAST05); Hà Quang Hải và nnk (2016) về các geosite ven biển Bình Thuận. Tranh luận về nguồn gốc cát đỏ Phan Thiết và các bậc thềm biển cổ có các công trình của Trần Nghi (1995, 1996, 1998), Nguyễn Địch Dỹ (1996), Đặng Văn Bào (1996), Đinh Ngọc Lựu & Lê Đức An (1978).
  3. Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây tại Bình Thuận hoặc tiếp cận địa mạo thuần túy, hoặc đánh giá di sản địa chất theo 13 kiểu chung chung (như Đinh Văn Huy, 2018), chưa đánh giá cụ thể từng điểm di tích địa mạo riêng lẻ (geosite/geomorphosite) bằng thang điểm định lượng và chưa tích hợp mối quan hệ hai chiều giữa tài nguyên địa mạo với tai biến địa mạo để xây dựng mô hình không gian du lịch địa học chuyên biệt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi

  • Địa mạo môi trường (Environmental Geomorphology): Áp dụng khung lý thuyết của M. Panizza (1996), xem xét địa mạo môi trường là nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường địa mạo. Khung phân tích gồm hai nhánh: Tài nguyên địa mạo (các dạng địa hình có giá trị khoa học, thẩm mỹ, văn hóa - lịch sử, kinh tế) và Tai biến địa mạo (các hiện tượng bất ổn định địa mạo như xói lở, trượt lở, dòng bùn - cát, cát bay/cát chảy, sụt lún).
  • Di tích địa mạo (Geomorphosite) và Du lịch địa học (Geotourism): Di tích địa mạo là đối tượng tại chỗ thuộc địa quyển phản ánh quá trình tiến hóa của vỏ Trái đất. Du lịch địa học sử dụng di tích địa mạo phục vụ tham quan, nâng cao nhận thức, giáo dục cộng đồng và bảo tồn địa học (Geoconservation).

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: Kế thừa các bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000, 1:50.000; bản đồ địa mạo, số liệu khí tượng thủy văn trạm Phan Thiết giai đoạn 2000–2019 và báo cáo quy hoạch kinh tế - xã hội, du lịch tỉnh Bình Thuận.
  2. Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành đo vẽ, định vị GPS, mô tả hình thái, lấy mẫu, chụp ảnh và khảo sát các tuyến ven biển (như tuyến khảo sát cuối tháng 12/2018) từ Tuy Phong đến Hàm Tân để xác định ranh giới 52 điểm tài nguyên địa mạo và hiện trạng tai biến.
  3. Phương pháp bản đồ và GIS: Xây dựng bản đồ địa chất, bản đồ địa mạo, bản đồ tài nguyên địa mạo tỷ lệ 1:50.000, bản đồ tai biến địa mạo và bản đồ định hướng phát triển du lịch địa học dải ven biển tỉnh Bình Thuận.
  4. Phương pháp đánh giá bán định lượng di tích địa mạo: Kế thừa và cải biên hệ thống tiêu chí của Pralong (2005), Pereira và nnk (2007), Reynard (2007) và Trần Tân Văn (2010), xây dựng bảng đánh giá 5 nhóm tiêu chí với thang điểm tổng hợp quy đổi theo tỷ lệ phần trăm (%):
Nhóm tiêu chí đánh giá Nội dung cấu phần chính
1. Giá trị khoa học và nội tại Tính đại diện, tính hiếm, tính toàn vẹn, tính đa dạng địa mạo và giá trị cổ địa lý/mô hình tiến hóa.
2. Giá trị giáo dục Khả năng tiếp cận tri thức địa học, tính mẫu mực, công cụ minh họa hiện tượng tự nhiên.
3. Giá trị kinh tế Khả năng tiếp cận, cơ sở hạ tầng du lịch, dịch vụ và sản phẩm du lịch địa phương.
4. Giá trị bảo tồn Các mối đe dọa tự nhiên, rủi ro tai biến thực tế/tiềm ẩn, mức độ xâm hại nhân sinh, tính dễ tổn thương và khung pháp lý bảo vệ.
5. Giá trị bổ sung Giá trị văn hóa - lịch sử (gắn với di tích lịch sử/tôn giáo), giá trị sinh thái và giá trị thẩm mỹ/phong cảnh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về nghiên cứu địa mạo môi trường phục vụ phát triển du lịch địa học và phương pháp nghiên cứu

Chương này tổng kết hệ thống lý luận về địa mạo môi trường từ các công trình quốc tế (Coates, Panizza, Cooke & Doornkamp, Downs & Booth) và trong nước (Lê Đức An, Vũ Văn Phái, Trần Tân Văn). Luận án xác lập mối liên hệ giữa các quá trình địa mạo với đời sống con người thông qua mô hình tương tác tài nguyên - tai biến. Tài nguyên địa mạo được phân tích theo các khía cạnh: giá trị khoa học (mô hình tiến hóa địa mạo, giáo dục, cổ địa mạo, trụ cột hệ sinh thái), giá trị văn hóa, giá trị kinh tế - xã hội và giá trị thẩm mỹ. Về tai biến địa mạo, chương 1 trình bày sơ đồ logic xác định tính bất ổn định địa mạo dựa trên phân tích bối cảnh tự nhiên (địa chất, thủy văn, địa hình, khí hậu) và hoạt động nhân sinh (sử dụng đất, khai khoáng, xây dựng). Chương này cũng hoàn thiện quy trình nghiên cứu 5 bước từ thu thập dữ liệu, khảo sát thực địa, thành lập bản đồ chuyên đề, đánh giá định lượng di tích địa mạo đến đề xuất giải pháp quy hoạch du lịch địa học và bảo tồn.

Chương 2: Địa mạo môi trường dải ven biển tỉnh Bình Thuận

Chương 2 phân tích các nhân tố hình thành địa hình dải ven biển Bình Thuận: bối cảnh địa chất (đá magma phức hệ Đèo Cả, đá trầm tích phun trào hệ tầng Nha Trang, các trầm tích bở rời Đệ tứ), điều kiện khí hậu bán khô hạn (mưa ít, gió mạnh) và các hoạt động nhân sinh (khai thác titan, xây dựng hạ tầng, nuôi trồng thủy sản).

Luận án xác định và phân loại môi trường địa mạo khu vực thành 6 kiểu môi trường, chứa đựng 11 dạng tài nguyên địa mạo với tổng số 52 điểm di tích địa mạo:

STT Kiểu môi trường địa mạo Dạng tài nguyên địa mạo Số lượng điểm / Địa danh tiêu biểu
1 Môi trường địa mạo bóc mòn tổng hợp Đồi núi bóc mòn; Quá trình vi pediment trên trầm tích gắn kết yếu 4 điểm (Núi Cà Ná, Núi Cố/Lầu Ông Hoàng, Núi Tà Cú, Pediment Hòa Thắng)
2 Môi trường địa mạo dòng chảy trên mặt Dòng chảy thường xuyên (Vách xâm thực đa sắc màu); Dòng chảy tạm thời (Khe rãnh xói mòn, sườn và đáy bồn thu thủy trên cát đỏ) 6 điểm (Suối Tiên, Bồng Lai, Hồng Thắng, 3 giai đoạn bồn thu thủy Tiến Thành)
3 Môi trường địa mạo hồ Hệ thống hồ trên cát (Bàu Trắng) 2 điểm (Hồ Bàu Bà, Hồ Bàu Ông)
4 Môi trường địa mạo sông - biển hỗn hợp Đồng bằng châu thổ (Delta) 2 điểm (Châu thổ Sông Dinh, Châu thổ Sông Cà Ty - Sông Cái)
5 Môi trường địa mạo gió Đồi, đun cát di động do gió 4 điểm (Đồi gió Tuy Phong, Chí Công, Đồi cát bay Hòa Thắng, Đồi Hồng Mũi Né)
6 Môi trường địa mạo bờ biển Khối sót mài mòn; Vách biển cổ; Thềm biển mài mòn và thềm tích tụ cát đỏ; Bãi biển và bãi cuội 34 điểm (Cổ Thạch, Mũi Kê Gà, Mũi Né, Hòn Rơm, Gành Son, Mũi Chê Ca, Bãi cuội Bảy Màu, Đồi Dương, Cà Ná...)

Chương 2 cũng phân tích hiện trạng các tai biến địa mạo chính tại khu vực:

  • Tai biến xói lở bờ biển: Phá hủy nhà cửa và công trình ven bờ nghiêm trọng tại thị trấn Liên Hương (Tuy Phong) và phường Đức Long (thành phố Phan Thiết).
  • Tai biến dòng bùn - cát: Hiện tượng trượt lở và dòng bùn - cát phát sinh trên các khối cát đỏ Phan Thiết trong mùa mưa, điển hình là sự cố bùn cát nghiêm trọng từ ngày 19 đến 23/5/2004 tại thôn Tiến Hòa, xã Tiến Thành, thành phố Phan Thiết.
  • Tai biến cát bay, cát chảy và di chuyển cồn cát: Gây bồi lấp đường giao thông và đất nông nghiệp tại Tuy Phong, Bắc Bình, Hòa Thắng.
  • Tác động tiêu cực do con người: Ô nhiễm rác thải du lịch và san lấp đất nông nghiệp xâm hại bãi cuội Bảy Màu; hoạt động xây dựng hàng quán thu hẹp dòng chảy và đổ bê tông làm giả nhũ đá phá vỡ cảnh quan tự nhiên tại Suối Tiên; khai thác sa khoáng titan làm phá hủy địa hình tầng cát đỏ Phan Thiết.

Chương 3: Đánh giá tài nguyên địa mạo phục vụ định hướng phát triển du lịch địa học dải ven biển tỉnh Bình Thuận

Luận án tiến hành lựa chọn 12 di tích địa mạo điển hình đại diện cho các kiểu môi trường địa mạo để đánh giá chi tiết:

  1. Vi pediment trên trầm tích gắn kết yếu (xã Hòa Thắng).
  2. Vách xâm thực đa sắc màu Suối Tiên.
  3. Vách xâm thực trên cát đỏ (Khu dã ngoại Bồng Lai, Phan Thiết).
  4. Sườn và đáy bồn thu thủy phát triển trên cát đỏ ở Tiến Thành.
  5. Hệ thống Bàu Trắng (Bàu Bà, Bàu Ông).
  6. Đồi cát bay Hòa Thắng.
  7. Khối sót mài mòn được nâng lên (Cổ Thạch).
  8. Khối sót mài mòn hiện đại và cổ (Mũi Kê Gà).
  9. Vách biển cổ trên trầm tích bở rời (Gành Son).
  10. Thềm mài mòn cổ được nâng lên (Mũi Chê Ca).
  11. Bãi cuội Bảy Màu (xã Bình Thạnh).
  12. Bãi biển Hòn Rơm (TP. Phan Thiết).

Kết quả tổng hợp điểm đánh giá theo 5 tiêu chí được xếp hạng thành 3 cấp di sản: cấp quốc tế, cấp quốc gia và cấp địa phương. Trên cơ sở 12 di tích địa mạo điển hình, 52 điểm tài nguyên địa mạo toàn vùng và liên kết với 29 di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng (15 di tích cấp quốc gia và 14 di tích cấp tỉnh, như Tháp Pô Sah Inơ, Trường Dục Thanh, Chùa Hang, Dinh Thầy Thím, Hải đăng Kê Gà...), luận án xác lập mô hình tổ chức không gian du lịch địa học:

  • 04 Cụm di sản địa mạo:
    • Cụm Tuy Phong: Trọng tâm là Cổ Thạch, Bãi cuội Bảy Màu, Gành Son, đồi gió Chí Công.
    • Cụm Bắc Bình: Trọng tâm là Đồi cát bay Hòa Thắng, hệ thống Bàu Trắng, địa hình vi pediment.
    • Cụm Phan Thiết: Trọng tâm là Suối Tiên, Đồi Hồng, Hòn Rơm, bồn thu thủy cát đỏ Tiến Thành, Đá Ông Địa.
    • Cụm Hàm Thuận Nam - La Gi: Trọng tâm là Mũi Kê Gà, Mũi Chê Ca, Hòn Bà, Tân Hải, Cam Bình.
  • 03 Vùng di sản địa mạo: Vùng phía Bắc (Tuy Phong - Bắc Bình), Vùng Trung tâm (Phan Thiết) và Vùng phía Nam (Hàm Thuận Nam - La Gi - Hàm Tân).
  • 04 Tuyến du lịch địa học liên cụm và 02 Tuyến du lịch địa học liên vùng.

Chương 3 kết thúc bằng việc đề xuất ma trận các phương án bảo tồn cụ thể cho từng điểm di tích địa mạo (Bảng 3.6), kết hợp các biện pháp phi công trình (cắm mốc, dựng bảng thuyết minh, quy chế tham quan) và kiểm soát công trình nhằm đảm bảo phát triển bền vững.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Bổ sung và làm phong phú cơ sở lý thuyết của địa mạo học ứng dụng tại Việt Nam thông qua việc thiết lập khung phân tích địa mạo môi trường phục vụ du lịch địa học, kết hợp chặt chẽ việc đánh giá tài nguyên địa hình với cảnh báo, kiểm soát tai biến địa mạo trong đới khí hậu khô hạn và bán khô hạn.
  • Chuẩn hóa phương pháp đánh giá bán định lượng di tích địa mạo (Geomorphosite assessment) phù hợp với điều kiện bờ biển nhiệt đới gió mùa khô hạn của Việt Nam, xây dựng bảng tiêu chí 5 nhóm giá trị rõ ràng, minh bạch phục vụ phân loại cấp độ di sản.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Xác định, lập danh mục và thành lập bản đồ tài nguyên địa mạo tỷ lệ 1:50.000 dải ven biển tỉnh Bình Thuận, phân loại được 11 dạng tài nguyên địa mạo với 52 điểm di tích phân bố trong 6 kiểu môi trường địa mạo.
  • Thực hiện đánh giá chi tiết 12 di tích địa mạo nổi bật và đề xuất phương án phân vùng phát triển du lịch địa học gồm 4 cụm di sản, 3 vùng di sản, 4 tuyến liên cụm và 2 tuyến liên vùng.
  • Xác định rõ các điểm nóng tai biến địa mạo (xói lở bờ biển tại Liên Hương, Đức Long; trượt lở bùn cát tại Tiến Thành; nguy cơ suy thoái bãi cuội Bảy Màu và Suối Tiên do con người) làm cơ sở cho công tác quản lý môi trường đới bờ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Bổ sung vào quy hoạch phát triển du lịch các điểm di tích địa mạo có giá trị cao nhưng chưa được khai thác đúng mức: sườn và đáy bồn thu thủy phát triển trên cát đỏ Tiến Thành, thềm mài mòn cổ được nâng lên tại Mũi Chê Ca, địa hình vi pediment trên trầm tích gắn kết yếu Hòa Thắng.
  2. Lắp đặt hệ thống bảng thông tin giải thích khoa học địa chất - địa mạo kèm hình ảnh minh họa tại các điểm tham quan nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng và du khách.
  3. Ban hành quy định quản lý, nghiêm cấm các hoạt động xâm hại cảnh quan tự nhiên (như bê tông hóa giả nhũ đá tại Suối Tiên, san lấp đất nông nghiệp lấn chiếm bãi cuội Bảy Màu).
  4. Tiến tới thành lập Khu bảo tồn đa dạng địa học dải ven biển tỉnh Bình Thuận và xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị công nhận Công viên địa chất (Geopark) cho khu vực ven biển Bình Thuận (bao gồm cả đảo Phú Quý).
  5. Bắt buộc thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tích hợp nội dung địa mạo đối với tất cả các dự án hạ tầng, khai thác khoáng sản và du lịch ven biển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn không gian nghiên cứu trong diện tích 1.393 km² trên phần đất liền ven bờ thuộc các thành tạo Đệ tứ từ Pleistocen sớm đến Holocen muộn; việc đánh giá chi tiết định lượng mới chỉ tập trung thực hiện cho 12 điểm di tích địa mạo điển hình trong tổng số 52 điểm tài nguyên địa mạo được kiểm kê.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu đánh giá di sản địa chất - địa mạo ra toàn bộ không gian biển đảo của tỉnh Bình Thuận, đặc biệt là khu vực đảo Phú Quý.
    • Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu định lượng cho toàn bộ 52 điểm tài nguyên địa mạo đã xác định.
    • Xây dựng hồ sơ khoa học phục vụ việc thành lập Công viên địa chất cấp quốc gia hoặc quốc tế cho dải ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và giảng viên: Luận án cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về địa mạo môi trường và du lịch địa học; quy trình đánh giá bán định lượng di tích địa mạo theo 5 nhóm tiêu chí là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Địa lý tự nhiên, Địa chất và Du lịch.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận trong việc điều chỉnh quy hoạch Khu du lịch quốc gia Mũi Né đến năm 2025, tầm nhìn 2030; tích hợp phân vùng bảo tồn di sản địa mạo và phòng tránh tai biến bờ biển vào quy hoạch không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Danh mục tọa độ và mô tả 52 điểm tài nguyên địa mạo (Phụ lục 2), danh mục 29 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh (Phụ lục 3 và 4), cùng bản đồ tài nguyên địa mạo và sơ đồ phân cụm, tuyến du lịch địa học trong Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã xác định được bao nhiêu kiểu môi trường, dạng tài nguyên và điểm di tích địa mạo tại dải ven biển Bình Thuận?

Theo kết quả nghiên cứu, luận án đã xác định và phân loại được 6 kiểu môi trường địa mạo, 11 dạng tài nguyên địa mạo với tổng cộng 52 điểm di tích địa mạo phân bố trên diện tích 1.393 km² dải ven biển tỉnh Bình Thuận.

2. Bộ tiêu chí nào được tác giả sử dụng để đánh giá bán định lượng 12 di tích địa mạo điển hình?

Tác giả sử dụng hệ thống đánh giá bán định lượng tổng hợp gồm 5 nhóm tiêu chí: (1) Giá trị khoa học và nội tại; (2) Giá trị giáo dục; (3) Giá trị kinh tế; (4) Giá trị bảo tồn; (5) Giá trị bổ sung (gồm văn hóa - lịch sử, sinh thái và thẩm mỹ). Kết quả tổng hợp điểm theo phần trăm (%) là căn cứ để đề xuất xếp hạng di tích theo các cấp quốc tế, quốc gia và địa phương.

3. Không gian du lịch địa học dải ven biển Bình Thuận được định hướng phân chia như thế nào?

Không gian du lịch địa học được quy hoạch thành 4 cụm di sản (Tuy Phong, Bắc Bình, Phan Thiết, Hàm Thuận Nam - La Gi), 3 vùng di sản (phía Bắc, Trung tâm, phía Nam), kết nối qua 4 tuyến du lịch địa học liên cụm và 2 tuyến du lịch địa học liên vùng, có sự tích hợp với 29 di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn.

4. Những dạng tai biến địa mạo và tác động tiêu cực nào được ghi nhận tại khu vực nghiên cứu?

Văn bản ghi nhận các tai biến tự nhiên và nhân sinh gồm: xói lở bờ biển (tại thị trấn Liên Hương và phường Đức Long); lũ bùn - cát trên tầng cát đỏ (điển hình tại xã Tiến Thành từ 19–23/5/2004); cát bay và di chuyển cồn cát; nguy cơ hủy hoại bãi cuội Bảy Màu do rác thải và san lấp nông nghiệp; can thiệp bê tông hóa làm hỏng cảnh quan tại Suối Tiên; và hoạt động khai thác titan làm biến dạng địa hình cát đỏ.

5. Luận án đề xuất giải pháp gì cho các điểm di tích chưa được khai thác đúng tiềm năng?

Tác giả kiến nghị bổ sung vào quy hoạch du lịch các dạng địa hình đặc thù như: sườn và đáy bồn thu thủy trên cát đỏ Tiến Thành, thềm mài mòn cổ nâng cao ở Mũi Chê Ca, địa hình vi pediment Hòa Thắng; đồng thời lắp đặt biển bảng diễn giải địa học, thành lập khu bảo tồn đa dạng địa học và nghiên cứu lập hồ sơ công viên địa chất cho dải ven biển Bình Thuận.


Kết luận

Luận án Tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Thúy đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu địa mạo môi trường phục vụ phát triển du lịch địa học dải ven biển tỉnh Bình Thuận trên cơ sở tiếp cận hệ thống mối quan hệ hai chiều giữa tài nguyên và tai biến địa mạo. Công trình đã kiểm kê 52 điểm tài nguyên địa mạo thuộc 11 dạng và 6 kiểu môi trường địa mạo, đồng thời lượng hóa giá trị của 12 di tích địa mạo tiêu biểu bằng bộ 5 tiêu chí khoa học. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học thực tiễn vững chắc cho việc tổ chức không gian du lịch địa học theo 4 cụm, 3 vùng và các tuyến liên kết, kết hợp chặt chẽ giữa khai thác kinh tế du lịch và bảo tồn di sản địa mạo bền vững tại địa phương.