Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Thanh Hóa là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh theo Quyết định số 636/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, giữ vai trò đầu tàu kinh tế và trung tâm chính trị của tỉnh với quy mô diện tích 146,77 km² cùng dân số 435.298 người. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 15,5% cùng quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đã tạo nên sức ép lớn lên môi trường đô thị. Toàn tỉnh Thanh Hóa phát sinh khoảng 1.800 tấn chất thải rắn sinh hoạt mỗi ngày đêm, trong khi tỷ lệ thu gom tại các khu vực đô thị mới chỉ đạt từ 75% đến 80%. Tại các phường trung tâm như Quảng Thành và Nam Ngạn, sự gia tăng nhanh chóng của khối lượng chất thải rắn sinh hoạt cùng thói quen đổ rác chưa qua phân loại đã khiến các điểm tập kết rác tạm thời rơi vào tình trạng quá tải, phát sinh mùi hôi và ô nhiễm thứ cấp nghiêm trọng.

Đề tài tập trung giải quyết vấn đề cấp bách về quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị thông qua việc khảo sát, phân tích toàn diện hiện trạng phát sinh, mạng lưới thu gom, vận chuyển và đánh giá các tác động lý hóa đến môi trường không khí, nước mặt xung quanh các điểm tập kết. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định chính xác tải lượng, thành phần chất thải, làm rõ các bất cập trong hệ thống vận hành và đề xuất giải pháp kỹ thuật, cơ chế quản lý phù hợp cho địa bàn phường Quảng Thành và Nam Ngạn. Nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 4/2017 đến tháng 8/2018, mang ý nghĩa thiết thực trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện tiêu chí môi trường đô thị, nâng tỷ lệ thu gom rác đạt trên 95% và bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Lý thuyết Quản lý chất thải rắn tích hợp kết hợp với mô hình kinh tế tuần hoàn và nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền nhằm thiết lập chu trình quản lý rác thải khép kín từ khâu phát sinh đến xử lý cuối cùng. Các khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm: chất thải rắn sinh hoạt, phân loại rác tại nguồn thành 3 dòng cơ bản, điểm tập kết trung chuyển và tải lượng ô nhiễm nước rỉ rác thông qua các chỉ số nhu cầu oxy hóa học và nhu cầu oxy sinh hóa.

Hệ thống luận cứ pháp lý làm điểm tựa đánh giá bao gồm Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn, cùng Chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn đến năm 2025 theo Quyết định số 2149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Ở cấp địa phương, nghiên cứu căn cứ vào Quyết định số 485/QĐ-UBND về Quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 và Báo cáo số 25/BC-UBND về hiện trạng chất thải rắn trên địa bàn toàn tỉnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hệ thống dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2017 - 2018. Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả tiến hành điều tra xã hội học trên 84 hộ gia đình phân bố ngẫu nhiên phân tầng tại hai phường, bảo đảm tính đại diện về trình độ học vấn, lứa tuổi, nghề nghiệp và ưu tiên phỏng vấn phụ nữ là người trực tiếp quản lý rác thải sinh hoạt gia đình. Đồng thời, phỏng vấn chuyên sâu 14 công nhân vệ sinh tại 7 bãi tập kết rác trọng điểm.

Để xác định khối lượng và thành phần rác thải, phương pháp cân rác thực nghiệm được áp dụng trên 90 hộ dân tại 6 tuyến phố trong vòng 1 tháng với 3 đợt cân đo vào ngày thường và ngày cuối tuần, sử dụng cân đồng hồ tiêu chuẩn 5 kg và phân tách rác thành 4 nhóm chính. Việc định lượng rác thải chợ và công sở được tính toán dựa trên quy chuẩn thể tích xe gom đẩy tay 0,4 m³ tương đương 0,12 tấn rác và cân thí điểm định kỳ 4 lần mỗi tháng.

Về quan trắc môi trường, nghiên cứu lấy 14 mẫu không khí và 14 mẫu nước mặt qua 2 đợt vào tháng 11/2017 mùa khô và tháng 4/2018 mùa giao mùa theo tiêu chuẩn TCVN 6137:2009 và TCVN 5992:1995. Phương pháp phân tích được lựa chọn vì tính chính xác cao và khả năng đối chiếu trực tiếp với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia gồm QCVN 05:2013/BTNMT về không khí xung quanh, QCVN 06:2009/BTNMT về khí độc hại, QCVN 26:2010/BTNMT về tiếng ồn, QCVN 08-MT:2015/BTNMT về nước mặt và Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả thực nghiệm xác định mức phát thải chất thải rắn sinh hoạt bình quân tại phường Quảng Thành và phường Nam Ngạn dao động từ 0,72 đến 0,84 kg/người/ngày, tạo ra khối lượng rác thải sinh hoạt từ hộ dân cư lên tới hàng chục tấn mỗi ngày. Thành phần rác thải hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ áp đảo từ 62,5% đến 68,4%, nhóm chất thải có khả năng tái chế như giấy bìa, nhựa, kim loại chiếm 14,8% đến 18,2%, phần còn lại là chất thải khó phân hủy và rác thải nguy hại gia đình chiếm khoảng 13,4% đến 16,8%.

Công tác thu gom hiện tại được thực hiện bởi Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Thanh Hóa phối hợp với các tổ đội vệ sinh, đạt tỷ lệ thu gom bình quân 85% rác sinh hoạt. Rác được thu gom thủ công bằng xe đẩy 0,4 m³ từ các ngõ ngách và tập kết tại 7 điểm lộ thiên trên địa bàn hai phường trước khi xe ép chuyên dụng vận chuyển về khu xử lý chất thải rắn xã Đông Nam thay cho bãi rác Cồn Quán đã đóng cửa.

Kết quả quan trắc lý hóa cho thấy chất lượng môi trường xung quanh các bãi tập kết rác bị suy giảm rõ rệt. Nồng độ bụi lơ lửng tại các điểm đo dao động từ 0,32 đến 0,48 mg/m³, vượt ngưỡng quy chuẩn từ 1,1 đến 1,6 lần. Khí hydro sunfua dao động từ 0,004 đến 0,008 mg/m³ và amoniac dao động từ 0,08 đến 0,14 mg/m³, đều vượt tiêu chuẩn vệ sinh lao động do rác bị lưu cữu qua 24 giờ. Phân tích chất lượng nước mặt tại các kênh mương và đầm sen tiếp giáp bãi tập kết ghi nhận chỉ số COD vượt quy chuẩn từ 1,8 đến 3,4 lần, BOD5 vượt từ 1,5 đến 2,8 lần và lượng coliform vượt ngưỡng báo động, đe dọa trực tiếp nguồn nước sản xuất nông nghiệp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng ô nhiễm bắt nguồn từ nguyên nhân hạ tầng các điểm tập kết rác chưa được đầu tư kiên cố, 100% bãi tập kết là nền đất hoặc gầm cầu vượt, không có tường bao, mái che và hệ thống thu gom nước rỉ rác. Tần suất vận chuyển rác bằng xe cuốn ép chưa đồng bộ với nhịp độ xả thải, dẫn tới tình trạng rác ứ đọng ngoài trời trong điều kiện nhiệt độ mùa hè có thời điểm lên đến 30,6 độ C và độ ẩm không khí trung bình trên 84%, thúc đẩy quá trình lên men kỵ khí sinh mùi hôi thối và nước rỉ rác rò rỉ vào thủy vực xung quanh. Khảo sát cộng đồng cho thấy 78,6% hộ dân chưa có thói quen phân loại rác do thiếu thùng chứa riêng và thiếu cơ chế khuyến khích.

Các dữ liệu quan trắc lý hóa được hệ thống hóa qua biểu đồ cột so sánh nồng độ khí độc hại giữa tháng 11/2017 và tháng 4/2018, kết hợp bảng ma trận đối chiếu chất lượng nước mặt với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để làm nổi bật diễn biến ô nhiễm theo thời gian. So sánh với các nghiên cứu tại các đô thị loại 1 khác ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đặc tính chất thải rắn tại thành phố Thanh Hóa có hàm lượng hữu cơ cao tương đồng nhưng hiệu quả thu hồi tái chế tại nguồn còn thấp hơn 12% so với các địa phương đã triển khai mô hình phân loại rác thí điểm thành công.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Thanh Hóa, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách và tài chính: Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa cần phối hợp cùng Sở Tài chính chuyển đổi phương thức thu phí vệ sinh môi trường theo định mức khối lượng phát sinh thay cho mức thu cào bằng theo đầu người, bảo đảm tỷ lệ thu phí đạt 98% hộ gia đình vào năm 2020. Đồng thời, xây dựng cơ chế ưu đãi vốn vay và miễn giảm thuế để khuyến khích các hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân đầu tư phương tiện cơ giới hóa thu gom rác.

Thứ hai, thiết lập mô hình phân loại chất thải rắn tại nguồn: Ủy ban nhân dân phường Quảng Thành và Nam Ngạn phối hợp cùng Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên triển khai trang bị đồng bộ hệ thống thùng rác 2 ngăn hoặc 3 ngăn có mã màu nhận diện tại 100% hộ dân cư, trường học và chợ trung tâm trong lộ trình 18 tháng, hướng tới mục tiêu giảm thiểu tối thiểu 45% khối lượng rác phải vận chuyển đi chôn lấp.

Thứ ba, chuẩn hóa kỹ thuật hạ tầng thu gom và xóa bỏ bãi tập kết tự phát: Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Thanh Hóa cần tiến hành cải tạo ngay 7 điểm tập kết hiện có bằng cách đổ sàn bê tông chống thấm, xây gờ chắn và rãnh thu nước rỉ rác, lắp đặt mái che kín và phun chế phẩm sinh học EM khử mùi định kỳ 2 lần mỗi ngày. Cùng với đó, điều chỉnh lịch trình xe ép rác chuyên dụng từ 1 chuyến mỗi ngày lên 2 chuyến mỗi ngày tại các trục đường chính nhằm chấm dứt hoàn toàn tình trạng rác tồn đọng qua đêm.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông và thực thi chế tài xử phạt: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố phối hợp cùng chính quyền địa phương tổ chức tối thiểu 6 khóa tập huấn mỗi năm cho các tổ dân phố, tăng cường thời lượng phát thanh tuyên truyền trên hệ thống loa phường và lắp đặt camera giám sát tại các điểm đen rác thải để xử phạt nghiêm các hành vi vứt rác không đúng nơi quy định theo Nghị định của Chính phủ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp tỉnh và thành phố: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Thanh Hóa cùng Ủy ban nhân dân các phường nội thành có thể sử dụng số liệu thực trạng và các khuyến nghị chính sách làm luận cứ xây dựng quy hoạch bãi tập kết, phê duyệt dự toán kinh phí dịch vụ công ích và ban hành quy chế quản lý chất thải rắn đô thị giai đoạn 2020 - 2025.

Doanh nghiệp và đơn vị dịch vụ công ích môi trường: Các công ty môi trường đô thị, hợp tác xã vệ sinh môi trường có thể ứng dụng trực tiếp mô hình tuyến thu gom tối ưu, phương án nâng cấp điểm tập kết đạt chuẩn và giải pháp ứng dụng chế phẩm vi sinh để cải thiện quy trình vận hành, giảm chi phí xử lý mùi hôi và nước rỉ rác.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành môi trường: Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa điều tra xã hội học, phương pháp cân rác phân tầng và quy trình quan trắc, phân tích mẫu không khí, nước mặt thực địa tại các đô thị đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Các tổ chức chính trị - xã hội và ban quản lý tổ dân phố: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các ban tự quản khu dân cư có thể khai thác tài liệu để biên soạn sổ tay hướng dẫn cộng đồng thực hành phân loại rác tại hộ gia đình và xây dựng các tuyến phố tự quản văn minh, xanh sạch.

Câu hỏi thường gặp

Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh bình quân đầu người tại khu vực khảo sát là bao nhiêu? Theo kết quả cân đo thực nghiệm tại 90 hộ gia đình thuộc 6 tuyến phố của 2 phường, chỉ số phát thải bình quân đạt từ 0,72 đến 0,84 kg/người/ngày. Mức phát thải này có xu hướng tăng vào những ngày cuối tuần và các dịp lễ tết, cao hơn khoảng 15% so với mức trung bình của các đô thị nhỏ trong khu vực Bắc Trung Bộ.

Các điểm tập kết rác gây ô nhiễm môi trường không khí ở mức độ nào? Các đợt phân tích tại 7 bãi tập kết lộ thiên cho thấy nồng độ bụi lơ lửng vượt quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT từ 1,1 đến 1,6 lần. Khí độc hydro sunfua và amoniac đều vượt tiêu chuẩn vệ sinh lao động của Bộ Y tế, nguyên nhân chủ yếu do rác chứa trên 60% chất hữu cơ bị ứ đọng lưu cữu ngoài trời quá 24 giờ.

Nước mặt xung quanh bãi tập kết rác bị tác động ra sao? Nước rỉ rác không được thu gom đã chảy tràn vào các mương tiêu và đầm nước lân cận. Kết quả kiểm nghiệm cho thấy chỉ số COD vượt từ 1,8 đến 3,4 lần, BOD5 vượt từ 1,5 đến 2,8 lần giới hạn B1 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT, kèm theo mật độ vi khuẩn coliform cao đe dọa đến hệ sinh thái và nguồn nước tưới tiêu.

Vì sao công tác phân loại rác tại nguồn ở địa phương chưa đạt hiệu quả? Khảo sát 84 hộ gia đình cho thấy hơn 78% hộ chưa thực hiện phân loại do thiếu thùng rác phân dòng chuyên dụng, người dân chưa được tập huấn kỹ thuật và quy trình thu gom của công ty môi trường vẫn thu gom lẫn lộn tất cả các loại rác lên cùng một phương tiện vận chuyển.

Giải pháp cấp bách nào cần thực hiện ngay tại các điểm tập kết rác trung chuyển? Cần thực hiện ngay việc đổ sàn bê tông chống thấm, xây gờ ngăn nước rỉ rác rò rỉ ra kênh mương, dựng mái che hạn chế nước mưa ngấm vào rác và định kỳ phun chế phẩm vi sinh EM 2 lần mỗi ngày để xử lý mùi hôi thối trong quá trình chờ xe ép rác chuyên dụng đến vận chuyển.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với các đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật sau:

  • Định lượng chính xác tải lượng chất thải rắn sinh hoạt tại phường Quảng Thành và Nam Ngạn với mức phát sinh 0,72 - 0,84 kg/người/ngày, trong đó thành phần hữu cơ chiếm trên 62%.
  • Cung cấp bộ số liệu quan trắc thực địa tin cậy chứng minh sự suy giảm chất lượng môi trường không khí và nước mặt tại 7 bãi tập kết rác trung tâm thành phố Thanh Hóa.
  • Đánh giá toàn diện nhận thức cộng đồng qua khảo sát 84 hộ gia đình, chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng, ý thức và cơ chế thu gom hỗn hợp hiện tại.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp liên hoàn từ chính sách, quy chuẩn hạ tầng điểm tập kết đến phương án tổ chức mạng lưới thu gom và phân loại rác tại nguồn.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ Đề án quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị tỉnh Thanh Hóa hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Về lộ trình tiếp theo, địa phương cần nhanh chóng triển khai thí điểm mô hình phân loại rác 3 ngăn tại các tuyến phố kiểu mẫu trong giai đoạn 2018 - 2020 trước khi nhân rộng trên toàn thành phố. Các cấp chính quyền, doanh nghiệp dịch vụ môi trường và người dân hãy chung tay hành động ngay từ hôm nay bằng việc phân loại rác tại nguồn và giữ gìn vệ sinh chung, cùng kiến tạo thành phố Thanh Hóa trở thành đô thị văn minh, hiện đại và phát triển bền vững.