đặt vấn đề về lợi ích về kinh tế lên trên vấn đề về bảo vệ môi trường. Tình trạng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của các doanh nghiệp sản xuất hiện nay đang ở mức nguy hiểm, nguyên nhân chính của vấn nạn này là công tác QLNN còn nhiều hạn chế và tồn tại. Trong nền kinh tế thị trường, mặc dù sự can thiệp trực tiếp của nhà nước ngày càng giảm và không thể thay thế thị trường nhưng nhà nước có thể hoàn thiện các hoạt động thị trường và vai trò ngày càng tăng lên, trong đó có quản lý nhà nước về môi trường đối với các doanh nghiệp. Trước tiên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các hệ thống văn bản pháp luật, nghị định, thông tư để quản lý, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong đó đặc biệt là các tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường.
Ngoài ra, nhà nước cũng đóng vai trò là một trọng tài quyền lực cân bằng giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Đặc điểm của quản lý nhà nước về môi trường đối với các doanh nhiệp trong khu công nghiệp a. Cơ sở quản lý nhà nước về môi trường Cơ sở triết học: nguyên lý thống nhất của thế giới vật chất, trong đó sự gắn bó chặt chẽ giữa tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống thống nhất, yếu tố con người giữ vai trò quan trọng. Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội” đòi hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải mang tính toàn diện và hệ thống.
Con người cần phải nắm bắt cội nguồn của sự thống nhất đó, phải đưa ra được những phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nẩy sinh trong hệ thống. Bởi lẽ con người đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất biện chứng giữa tự nhiên – con người – Xã hội. Chính vì vậy khoa học về quản lý môi trường, hay sinh thái nhân văn chính là sự tìm kiếm của con người nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – con người – Xã hội”. Cở sở khoa học, công nghệ của QLNN về môi trường: Khoa học về môi trường là một lĩnh vực khoa học mới, thực sự nó xuất hiện và được phát triển mạnh từ những năm 1960 trở lại đây, làm cơ sở cho nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, phát hiện những nguyên lý, quy luật môi trường giúp cho việc thực hiện quản lý môi trường.Nhờ những kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa.
Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới giúp cho việc Quản lý môi trường hiệu quả hơn. Cơ sở kinh tế của hoạt động QLNN về môi trường: Hiện nay Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền Kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế. Trong nền Kinh tế thị trường mọi nguyên lý hoạt động được dựa trên cơ sở cung và cầu của thị trường, thông qua cạnh tranh, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo gía trị. Loại hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thụ nhanh, ngược lại những hàng hoá kém chất lượng và giá thành cao thì sẽ không có chỗ đứng.
Trên cơ sở những nguyên lý của kinh tế thị trường, người ta đã đưa ra các chính sách hợp lý và các công cụ kinh tế để điều chỉnh và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường. Cơ sở luật pháp cho Quản lý môi trường: Cơ sở luật pháp cho quản lý môi trường thực chất là các văn bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường. Luật quốc tế về môi trường thực chất là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia. Cho đến nay đã có hàng ngàn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong số đó đã có nhiều văn bản được chính phủ Việt nam ký kết.
Trong phạm vi quốc gia, chúng ta cũng đã có nhiều văn bản pháp lý liên quan đến bảo vệ và quản lý môi trường. Văn bản quan trọng nhất là Luật bảo vệ môi trường được quốc hội thông qua ngày 27/12/1993. Các văn bản pháp luật Quốc tế và Quốc gia là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý Nhà nước vể bảo vệ môi trường (Nguyễn Thế Chinh, 2003). Đối tượng và mục tiêu của quản lý nhà nước về môi trường: Chính là quản lý hành vi cá nhân, tập thể con người trong hoạt động sản xuất, tiêu thụ, sinh hoạt…là điều tiết các lợi ích sao cho hài hòa trên nguyên tắc ưu tiên lợi ích Quốc gia và toàn xã hội.
Mục tiêu của QLNN về môi trường hướng tới là phải khác phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người đồng thời xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý về môi trường Quốc gia và các vùng lãnh thổ sao cho phù hợp với từng địa phương, từng ngành và cộng đồng dân cư. Nội dung quản lý nhà nước về môi trường đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp 2. Xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường Quy chế phối hợp hoạt động giữa Ban Quản lý các KCN và Sở Tài nguyên và Môi trường nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực môi trường về hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện đúng chính sách pháp luật về môi trường của Nhà nước đối với các doanh nghiệp 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại các KCN, đồng thời cũng để đáp ứng kịp thời các yêu cầu chính đáng của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này (BQL các KCX và CN TP. Hồ Chí Minh, 2017).
Quy chế phối hợp giữa BQL và các công ty Phát triển hạ tầng thống nhất công tác phối hợp quản lý trên các lĩnh vực: Thu hút đầu tư và quản lý dự án đầu tư; quy hoạch và xây dựng; bảo vệ môi trường; lao động, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy; hỗ trợ doanh nghiệp; kiểm tra - thanh tra; và thi đua khen thưởng, qua đó thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước, tháo gỡ vướng mắc, đề xuất cơ chế chính sách trong quá trình quản lý với phương châm “Công ty phát triển hạ tầng thật sự là cánh tay nối dài của BQL đến các doanh nghiệp trong KCN”. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp hoạt động ổn định, bền vững (BQL các KCX và CN TP. Hồ Chí Minh, 2017). Thực hiện cơ chế quản lý một đầu mối, tránh chồng chéo, gây phiền hà cho doanh nghiệp; trong đó, cơ quan chủ trì có trách nhiệm giữ vai trò đầu mối, chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong thực hiện trách nhiệm được giao trong Quy chế, đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đầu tư sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp (UBND Tỉnh Bắc Ninh, 2011).
Thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường Đánh giá tác động môi trường được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Xét dưới góc độ quản lý, nó được coi là biện pháp quản lý Nhà nước về môi trường, xét dưới góc độ khoa học, nó là những nghiên cứu về mối liên hệ, những tác động biện chứng giữa hoạt động phát triển và môi trường. Với tư cách là khái niệm pháp lý, ĐTM là các quan hệ pháp lý hình thành giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các cơ quan, tổ chức đề xuất, thực hiện hoạt động phát triển trong việc khảo sát và đánh giá tác động của các hoạt động phát triển đó đối với các yếu tố môi trường cũng như các giải pháp giảm thiểu tác động đó. ĐTM là định chế pháp lý, xét ở khía cạnh chủ quan của pháp lý thì ĐTM là các quy tắc xử sự mà các chủ thể cần phải thực hiện khi tiến hành dự án phát triển có khả năng tác động đến môi trường (Lê Huy Bá, 2006).
Như vậy, bản chất pháp lý của ĐTM thể hiện ở chỗ nó là nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ yêu cầu của quản lý Nhà nước về BVMT, từ nghĩa vụ hiến định của tất cả cá nhân, tổ chức về BVMT. Bản chất này của ĐTM được thể hiện ở những yêu cầu sau; bất kỳ tổ chức, cá nhân nào nếu thực hiện dự án có thể gây ảnh hưởng đến môi trường đều phải thực hiện việc phân tích và đánh giá môi trường 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gắn liền với chủ thể cụ thể, tức là chủ thể đề xuất dự án có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường. Đánh giá môi trường không phải là nghĩa vụ mang tính chất hình thức, tức không phải chỉ là điều kiện giấy tờ cần phải có cho việc phê duyệt dự án mà là nghĩa vụ mang tính nội dung. ĐTM cần được xem xét, cân nhắc một cách đầy đủ như các yếu tố vật chất khác của dự án, hoạt động.
Theo khoản 20 điều 3 luật Bảo vệ môi trường "Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó" (Quốc hội, 2014). Hoạt động đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi vì nó giúp chúng ta xem xét nhiều vấn đề quan trọng, nhất là công nghệ xử lý nước thải, giảm thiểu tiêu cực tới môi trường và giám sát môi trường. Đánh giá môi trường góp phần giảm thiểu, hạn chế các tác động tiêu cực của dự án, hoạt động phát triển tới môi trường.
Đánh giá môi trường góp phần ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các chủ dự án, các cơ sở.