Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1. Cơ sở lý luận về cộng đồng và du lịch 1. Các khái niệm cơ bản về cộng đồng 1. Khái niệm về cộng đồng Thuật ngữ cộng đồng trong quan niệm Mác-xít là chỉ toàn thể những người sống thành một nhóm xã hội nói chung (có thể có những quy mô khác nhau), có những đặc điểm giống nhau hay có những lợi ích và mối quan tâm chung, gắn bó thành một khối.
Quan niệm này cũng được hiểu với ý nghĩa là những người trong cùng một đơn vị hành chính, có chung một nền văn hoá hoặc cùng dân tộc. Theo Jadob trong bài viết “Nghĩ về đối tượng xã hội” nói về cộng đồng là tổng hòa các quan hệ xã hội hay các giai cấp có sự liên kết với nhau trong một nền sản xuất. Theo Tô Duy Hợp thì cộng đồng là tập hợp cá nhân với xã hội dựa trên đại vực (hành chính), yếu tố kinh tế (nghề nghiệp), yếu tố văn hóa (lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực) như: cộng đồng dân cư nông thôn, cộng đồng dân cư miền núi, dân tộc, cộng đồng thiên chúa giáo, cộng đồng làng nghề…đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số có các giá trị về phong tục tập quán, sinh hoạt, ngành nghề truyền thống nổi trội thu hút khách du lịch đến tham quan điểm du lịch như khu vực Sa Pa, hồ Ba Bể, Mèo Vạc. Các yếu tố tạo nên cộng đồng Cộng đồng thường được tạo lập bởi 3 yếu tố chính là: - Địa vực.
Tức là vị trí của cộng đồng trên bản đồ, hay còn là một tập thể người định cư trên vùng đất đai, đất đai đã và vẫn có một giá trị tinh thần tạo nên mà được gợi đất mẹ hay đất tổ tiên. Đại vực bao gồm thiết lập nên ranh giới được hình thành trong quá trình lịch sử để tạo nên hay phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác. Ý thức địa vực là một trong những ý thức sâu sắc và lâu bền của cộng đồng trong lịch sử tạo nên hạn nhân của cộng đồng và giúp cộng đồng gắn kết, bảo vệ tồn tại. Kinh tế không chỉ tạo ra vật chất giúp cộng đồng tồn tại mà là phương diện của sự phát triển cộng đồng.
Trong quá trình hình thành và phát triển mỗi cộng đồng hình thành nên những nét đặc trương về lao động nghề tạo ra cho cộng đồng đó một hay vài ngành nghề truyền thống để nhằm phân biệt các ngành nghề với cộng đồng khác và mang tính bí quyết. Là biểu thị có tính chất tổng hợp khi nhận biết các cộng đồng, trong đó khía cạnh yếu tố tiếng nói, chữ viết, truyền thống, lịch sử, tộc người, tôn giáo tín ngưỡng, hệ thống giá trị - chuẩn mực, phong tục tập quán, văn hóa, văn nghệ, lối sống… tạo ra tính cộng đồng là kết cấu tạo ra cộng đồng. Tóm lại, được gọi là một cộng đồng hay nhận biết bản chất của một cộng đồng dựa trên vị trí địa lý với các đặc điểm kinh tế và các yếu tố chung về văn hóa để xác định. Khái niệm về du lịch và kinh doanh du lịch 1.
Khái niệm về du lịch Ngày nay, du lịch đang trở thành một nhu cầu tất yếu đề phát triển, hoàn thiện cho một con người; trong một đời người, ai cũng có một nguyện vọng được hành trang trên con đường du lịch; du lịch hay đi du lịch là một trong những sự kiện được nhiều người mong muốn; trên góc độ của quốc gia thì du lịch là một sự kiện trọng đại mang đến hiệu quả nhiều mặt về chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh an toàn. Vì vậy, du lịch đã và đang ngày càng trở thành hoạt động khá phổ biến trong thời đại ngày nay. Từ đó, khái niệm du lịch đã được sử dụng nhiều, rộng rãi trên sách báo, tạp chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, qua mỗi thời kỳ phát triển kinh tế-xã hội, khái niệm về du lịch cũng mang những nét đặc trưng khác nhau, được nhận thức ngày càng đầy đủ hơn và hoàn thiện cả về nội dung, học thuật.
Qua nghiên cứu cho thấy, đứng trên các góc độ khác nhau của người nghiên cứu, chuyên gia thì khái niệm du lịch có thể được định nghĩa khác nhau như người quản lý, cộng đồng, trên góc độ quan sát sản phẩm du lịch, trên góc độ người kinh doanh… 12 Quan niệm của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) thì “Du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế phát sinh do sự di chuyển tới các quốc gia hay điểm đến ngoài nơi cư trú thường xuyên của con người với các mục đích cá nhân, hoặc do nhu cầu công việc, chuyên môn"[Tổ chức du lịch thế giới] Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp tại Rome - Italia (1963), đưa ra quan niệm: “Du lịch là cả một quy trình gồm tất cả các hoạt động của du khách từ lúc dự trù chuyến đi cho đến lúc di chuyển và đến nơi cư trú, ăn ở, mua sắm, giải trí, giao tiếp, nghỉ ngơi đến lúc trở về nhà và hồi tưởng hay là Du lịch là cả một quy trình gồm tất cả các hoạt động của du khách từ lúc dự trù chuyến đi cho đến lúc di chuyển và đến nơi cư trú, ăn ở, mua sắm, giải trí, giao tiếp, nghỉ ngơi đến lúc trở về nhà và hồi tưởng” [Hội nghị liên hợp quốc về du lịch họp tại Rome]. Luật Du lịch 2017 tại Điều 3 định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [1, trang 1]. Như vậy, khái niệm du lịch ở trên được hiểu từ góc độ khách du lịch, người đi du lịch phải thay đổi/dịch chuyển không gian cư trú thường xuyên với mục tiêu hưởng thụ các nhu cầu khác nhau của họ. Một khái niệm khác được đưa ra trên góc độ người kinh doanh là: Du lịch việc tổ chức cung cấp các dịch vụ như: khách sạn, nhà hàng, quán ăn, cửa hàng giải khát, môi giới, hướng dẫn du lịch, vui chơi… để phục vụ nhu cầu này.
Từ các quan niệm cơ bản về du lịch như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu du lịch theo hai nghĩa cơ bản sau: thứ nhất, du lịch là nói đến sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, thỏa mãn các nhu cầu giải trí; thứ hai, du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản cho việc tồn tại của con người như ăn, ngủ, đi lại và các dịch vụ bổ sung nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách trong quá trình đi du lịch. Kinh doanh du lịch Theo quy định tại Điều 3 của Luật Du lịch 2017: "Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch" [1, trang 1]. Như vậy, được hiểu du lịch là một hoạt động đặc thù, gồm nhiều đối tượng tham gia vào đó là du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương nơi đón du khách và dân cư sở tại. HĐDL có mối quan hệ kết hợp và tương tác giữa các đối tượng trên.
Từ khái niệm trên cho thấy mỗi đối tượng tham gia đều có các mục đích khác nhau, cụ thể: Du khách tham gia hoạt động du lịch là để đạt được mục tiêu đi du lịch, mục đích thỏa mãn nhu cầu du lịch. Đối với nhà cung ứng dịch vụ du lịch là quá trình tổ chức cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho khách du lịch với mục đích thu lại lợi nhuận thông qua các loại hình kinh doanh là kinh doanh lữ hành, kinh doanh dịch vụ lưu trú, kinh doanh nhà hàng ăn uống, kinh doanh bàn hàng lưu niệm, kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí và dịch vụ bổ sung khác như làm đẹp, chăm sóc sức khỏe. Đối với chính quyền địa phương đó là quản lý theo pháp luận hoạt động kinh doanh, cũng như đi lại của khách du lịch, quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường và để tạo điều kiện phát triển du lịch. Đối với dân cư là tham gia HĐDL địa phương tham gia hoạt động du lịch là cung cấp các dịch vụ cho khách qua đó để giải quyết nhu cầu làm việc, tăng thêm lợi ích kinh tế, đồng thời tham gia giám sát, bảo vệ tài nguyên và môi trường; bảo vệ tài nguyên và môi trường nơi sinh sống.
Từ các khái niệm trên cho thấy, trong du lịch bao gồm các loại hình kinh doanh chính có liên quan đến công tác quản lý kinh tế của nhà nước: - Dịch vụ kinh doanh lữ hành. Theo Luật Du lịch, kinh doanh lữ hành gồm: Kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa phục vụ khách du lịch nội địa và kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. - Dịch vụ kinh doanh vận tải khách du lịch. Kinh doanh vận tải khách du lịch là việc cung cấp dịch vụ vận tải đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt, đường bộ chuyên phục vụ khách du lịch theo chương trình du lịch, tại 14 khu du lịch, điểm du lịch.
Tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải khách du lịch phải đáp ứng điều kiện kinh doanh vận tải; quy chuẩn kỹ thuật, bảo vệ môi trường của phương tiện vận tải; điều kiện của người điều khiển phương tiện vận tải, nhân viên phục vụ, trang thiết bị, chất lượng dịch vụ trên từng loại phương tiện vận tải theo quy định của pháp luật. - Kinh doanh dịch vụ lưu trú. Là loại hình cung cấp dịch vụ lưu trú, nghỉ và các dịch vụ khác cho khách du lịch; dịch vụ kinh doanh lưu trú gồm: Khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, bãi cắm trại du lịch, các cơ sở lưu trú du lịch khác.