Chương 1 đề cập đến tính cấp thiết của đề tài, cũng như đưa ra được các bài nghiên cứu liên quan cả trong và ngoài nước. Ngoài ra cũng xác định được các vấn đề cơ bản như mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp nghiên cứu để triển khai các chương tiếp theo. Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý kho hàng hoá Trong chương 2, tác giả khái quát về một số khái niệm, phân loại và chức năng của kho hàng hoá; các hoạt động cơ bản để quản lý kho hàng hóa, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý kho hàng hoá. Chương 3: Thực trạng quản lý kho hàng hoá của Công ty Cổ phần Giao nhận ISO.
Trong chương 3, trước tiên tác giả trình bày tổng quan về Công ty Cổ phần Giao nhận ISO với các nội dung về lịch sử hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức, lĩnh vực kinh doanh, nguồn lực tổ chức,. Sau đó, tác giả tập trung trình bày thực trạng 5 và các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý kho hàng hoá của công ty. Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá và tìm ra nguyên nhân của hạn chế còn tồn tại. Chương 4: Đề xuất giải pháp quản lý kho hàng hoá của Công ty Cổ phần Giao nhận ISO.
Từ những lý luận về quản lý kho hàng hoá ở chương 2 và thực trạng như đã đề cập tại chương 3, tác giả xin đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý kho hàng hoá tại Công ty Cổ phần Giao nhận ISO. Các kiến nghị này được đưa ra dựa trên xu hướng kinh tế hiện nay kết hợp với các định hướng hoạt động của công ty trong tương lai, sao cho phù hợp nhất với hướng đi của doanh nghiệp. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KHO HÀNG HOÁ 2. Tổng quan về quản lý kho hàng hoá trong doanh nghiệp 2.
Khái niệm kho hàng hoá Kho hàng là cơ sở logistics, được xây dựng tại địa điểm đạt các điều kiện nhất định, để thực hiện dự trữ, bảo quản và chuẩn bị hàng hoá nhằm cung ứng cho khách hàng với mức dịch vụ thích hợp và chi phí tối ưu. Nói một cách chi tiết thì kho hàng là nơi trực tiếp thực hiện nhiều hoạt động logistics như bảo quản, cung ứng nguyên liệu, dự trữ bán thành phẩm, thành phẩm, chuẩn bị lô hàng theo yêu cầu xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Kho hàng là một trong các mắt xích quan trọng trong mạng lưới cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống logistics và chuỗi cung ứng, là bộ phận trực tiếp thực hiện nhiều nội dung hoạt động logistics của doanh nghiệp. Hoạt động kho liên quan trực tiếp đến việc tổ chức, bảo quản hàng hoá dự trữ, chuẩn bị lô hàng theo yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp.
Với vị trí như vậy, kho hàng hoá đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính liên tục, hiệu quả của hoạt động kinh doanh và chuỗi cung ứng. Quản lý kho tốt là yếu tố quan trọng giúp cải thiện hiệu suất logistics và sức cạnh tranh của doanh nghiệp: Đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất và phân phối hàng hoá. Nhu cầu tiêu dùng có thể biến thiên theo mùa vụ và có những dao động khó lường. Các nguồn cung cũng luôn có những diễn biến phức tạp trong khi hoạt động sản xuất cần được duy trì liên tục để đảm bảo chất lượng ổn định với chi phí hợp lí, do vậy lượng dự trữ nhất định trong kho giúp doanh nghiệp có thể đối phó được với những thay đổi bất thường của điều kiện kinh doanh phòng ngừa rủi ro và điều hoà sản xuất.
Góp phần giảm chi phí sản xuất, vận chuyển, phân phối. Nhờ có kho nên có thể chủ động tạo ra các lô hàng với quy mô kinh tế trong quá trình sản xuất và phân phối, nhờ đó mà giảm chi phí bình quân trên đơn vị. Hơn nữa kho góp phần vào việc tiết kiệm chi phí lưu thông, thông qua việc quản lý tốt định mức hao hụt hàng hoá, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả cơ sở vật chất của kho. Hỗ trợ quá trình cung cấp dịch vụ khách hàng của doanh nghiệp thông qua việc đảm bảo hàng hoá sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng giao, góp phần giao hàng đúng thời gian và địa điểm.
Hỗ trợ việc thực hiện quá trình “logistics ngược" thông qua việc thu gom, xử lý, tái sử dụng bao bì, sản phẩm hỏng, sản phẩm thừa. Phân loại kho hàng hoá Theo vị trí trong chuỗi cung ứng. Kho thành phẩm. Lưu trữ các thành phẩm cuối cùng đã hoàn thành và sẵn sàng giao cho khách hàng.
Kho này thường đặt ở gần nhà máy lắp ráp dùng để dự trữ hàng trước khi phân phối, chuẩn bị hàng hoá phục vụ cho công tác ra mắt sản phẩm mới, hoặc đáp ứng nhu cầu dự kiến gia tăng của mặt hàng trên thị trường, đặc biệt là giúp đối phó với sản phẩm có tính mùa vụ. Kho bán buôn/bán lẻ. Thường được đặt gần địa điểm tập trung đông khách hàng của doanh nghiệp nhằm cung cấp và phản hồi kịp thời với mức chất lượng dịch vụ phù 7 hợp nhất. Kho hàng này có chức năng tích hợp và gom hàng cho hoạt động bán buôn/bán lẻ.
Trung tâm đáp ứng đơn hàng. Phổ biến ở các doanh nghiệp thương mại điện tử, là nơi tập kết và gom các sản phẩm từ nhiều nguồn cung khác nhau và được tiến hàng chia chọn để chuẩn bị gửi đơn hàng đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Loại kho này có tính linh hoạt và tốc độ cao. Theo đặc điểm sở hữu.
Được sở hữu bởi doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh có quyền sở hữu hàng hoá dự trữ và bảo quản tại kho. Kho hàng này thích hợp với những doanh nghiệp đầu tư và điều hành, có khả năng về nguồn lực tài chính, đồng thời các loại hình kho khác không đáp ứng yêu cầu dự trữ, bảo quản hàng hoá và cung ứng hàng hoá của doanh nghiệp (vị trí quá xa, điều kiện thiết kế và thiết bị không quá phù hợp). Lợi ích chủ yếu là có khả năng kiểm soát, có tính linh hoạt nghiệp vụ và có các lợi ích vô hình khác. Tuy nhiên, khi sử dụng loại kho này thì chi phí logistics sẽ tăng và tính linh hoạt không đảm bảo khi doanh nghiệp mở rộng thị trường kinh doanh.
Kho công cộng. Hoạt động như một đơn vị kinh doanh độc lập cung cấp một loạt các dịch vụ như dự trữ, bảo quản và vận chuyển trên cơ sở tiền thù lao cố định hoặc biến đổi. Các doanh nghiệp không có khả năng mở kho công cộng cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn cho mọi khách hàng, trong đó công ty cho thuê kiểm soát hoạt động kho, đem lại lợi ích linh hoạt về tài chính và kinh tế. Loại hình kho công cộng được thiết kế đảm bảo cơ sở vật chất tiêu chuẩn, tập trung vào phát triển năng lực lõi của từng doanh nghiệp đi thuê kho.
Kho tự quản. Không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ thuê lại và tự quản lý, sắp xếp cúng như sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Kho tự quản thường có hợp đồng thuê dài hạn và nhiều ràng quốc giữa bên cho thuê và bên đi thuê. Theo mặt hàng.
Kho tổng hợp. Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá cao, có thể bảo quản nhiều loại hàng hoá theo các khu kho và nhà kho chuyên môn hoá. Kho chuyên biệt. Chuyên bảo quản một nhóm hàng/loại hàng nhất định.
Kho hàng hỗn hợp. Có trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá thấp nhất. Kho bảo quản nhiều loại hàng hoá trong một khu kho hoặc nhà kho. Theo đặc điểm kiến trúc.
Là hình thức kho có khả năng tạo môi trường bảo quản kín, chủ động duy trì chế độ bảo quản, ít chịu ảnh hưởng của các thông số môi trường bên ngoài. Hình thức kho hàng chỉ có thể che mưa, nắng cho hàng hoá, không có các kết cấu (tường) ngăn cách với môi trường ngoài kho. Kho lộ thiên (bãi chứa hàng). Chỉ là các bãi tập trung dự trữ những hàng hoá ít hoặc không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của khí hậu, thời tiết.
Theo khả năng kiểm soát nhiệt độ Kho thường. Là kho hàng thường dùng để lưu trữ những hàng hóa, sản phẩm thông thường bảo quản trong điều kiện chuẩn. Các loại hàng hóa được lưu trữ tại 8 kho thường có thể lưu trữ trong thời gian dài mà không ảnh hưởng về cả chất lượng và số lượng. Là những kho đặc thù, có vỏ được làm bằng vật liệu cách nhiệt, bên trong được gắn thiết bị làm lạnh, có khả năng điều chỉnh các điều kiện lưu trữ, bảo quản hàng hóa như: nhiệt độ, độ ẩm, … để giữ cho hàng hóa trong kho giữ được trạng thái chất lượng cao nhất.
Những kho này thường được sử dụng cho các loại hàng hóa như: thực phẩm, đồ đông lạnh, thủy hải sản,… Theo công nghệ kho. Kho thủ công. Là loại hình kho đơn giản nhất và rất phổ biến, trong đó hàng hoá thường được để trong thùng, hộp và trên kệ để lưu trữ. Việc di chuyển hàng hoá chủ yếu bằng phương pháp thủ công sử dụng sức người.
Thiết bị trong kho thường đơn giản như xe đẩy pallet bằng tay, băng tải cơ học. Kho thủ công phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có hàng hoá kích cỡ nhỏ nhẹ, kệ hàng không xếp quá cao. Kho cơ giới hoá. Phát triển hơn kho thủ công, được thay thế một phần sức người bằng máy móc, sử dụng cho hàng hoá thường được tập hợp theo đơn vị tiêu chuẩn/kích cỡ đồng nhất.
Việc di chuyển hàng hoá vẫn do con người kiểm soát. Thiết bị phổ biến trong kho bao gồm xe nâng, băng chuyền, máy lấy hàng,… dùng để chứa hàng cồng kềnh và nặng nề hơn kho thủ công, kệ xếp hàng có thể được thiết kế cao hơn. Kho tự động hoá (Automated Warehouse). Được áp dụng công nghệ tự động hoá trong vận hành và quản lý, nhằm giảm thiểu tối đa sự xuất hiện của con người.
Thiết bị tự động hoá, được kiểm soát bởi hệ thống máy tính: Robot thông minh, RFID,… phù hợp với doanh nghiệp có quy mô lớn, hàng hoá đa dạng, mật độ cao và yêu cầu cao về năng suất cung như tốc độ hoạt động tác nghiệp cao. Kho tự hành (self – operative) bởi robot và hệ thống thông tin. Tương tự như kho tự động hoá, nhưng hoạt động hoàn toàn tự động, không cần sự can thiệp của con người.