Tổng quan nghiên cứu

Khu hệ côn trùng chiếm hơn 75% tổng số loài động vật trên Trái Đất với hơn 936.000 loài đã được mô tả theo các nghiên cứu sinh học quốc tế. Tại Việt Nam, Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử thuộc tỉnh Bắc Giang sở hữu diện tích 13.023 ha rừng tự nhiên thuộc cánh cung Đông Triều, đóng vai trò then chốt trong việc duy trì cân bằng sinh thái và bảo tồn nguồn gen vùng Đông Bắc. Mặc dù khu hệ thực vật với 728 loài và khu hệ động vật có xương sống với 285 loài đã được ghi nhận, dữ liệu khoa học về đa dạng sinh học côn trùng tại khu vực này trước đây vẫn còn nhiều khoảng trống.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng suy thoái sinh cảnh do hoạt động khai thác lâm sản trái phép, tập quán đốt rừng làm nương rẫy và sự lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật của các cộng đồng dân cư vùng đệm. Nghiên cứu của tác giả Đào Văn Đức dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Nguyễn Thế Nhã tại Trường Đại học Lâm nghiệp tập trung vào mục tiêu: điều tra, định loại thành phần loài côn trùng, phân tích đặc điểm phân bố theo sinh cảnh và đai độ cao, xác định các loài có giá trị bảo tồn nguồn gen, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 9 năm 2014 tại 4 phân khu trọng điểm gồm Ba Tia, Đèo Nón, Yên Tử và Khe Xanh, trải rộng trên địa bàn thị trấn Thanh Sơn cùng các xã Tuấn Mậu và Thanh Luận. Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc ghi nhận và định danh thành công 148 loài côn trùng thuộc 71 họ của 13 bộ, cung cấp bộ chỉ số sinh thái định lượng chuẩn xác phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch bảo tồn của tỉnh Bắc Giang.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân cấp đa dạng sinh học của Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên, tiếp cận đồng thời ở ba mức độ: đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết cân bằng sinh thái và mạng lưới dinh dưỡng quần xã côn trùng rừng, phân định rõ vai trò chức năng sinh thái giữa nhóm côn trùng ăn thực vật, nhóm bắt mồi ăn thịt và nhóm ký sinh.

Các khái niệm chính được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  • Đa dạng sinh học côn trùng: Độ phong phú về thành phần loài, cấu trúc taxon và sự phong phú tương đối của các quần thể côn trùng trong một hệ sinh thái xác định.
  • Côn trùng thiên địch: Tập hợp các loài côn trùng có tập tính ký sinh hoặc săn bắt các loài sâu hại, đóng vai trò kiểm soát sinh học tự nhiên.
  • Sinh cảnh: Môi trường sống đặc trưng với các yếu tố thảm thực vật, vi khí hậu và nguồn thức ăn xác định sự hiện diện của quần xã côn trùng.
  • Chỉ số phong phú sinh thái: Thước đo định lượng cấu trúc sinh học quần xã thông qua mối tương quan giữa số lượng loài và tổng số cá thể.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp tuyến khảo sát thực địa nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho 7 dạng sinh cảnh chính của khu bảo tồn. Tác giả thiết lập 4 tuyến khảo sát với tổng chiều dài 17 km (gồm tuyến Ba Tia 4,5 km; Đèo Nón 4,0 km; Yên Tử 4,5 km; Khe Xanh 4,0 km). Trên các tuyến này, 40 điểm điều tra định lượng cố định hình tròn có bán kính 10 m (diện tích 314 m2 mỗi điểm) được bố trí để quan sát và thu thập mẫu. Cỡ mẫu định lượng mặt đất được thực hiện thông qua 5 ô dạng bản diện tích 1 m x 1 m rải đều tại mỗi điểm điều tra, kết hợp khảo sát từ 3 đến 9 ô dạng bản trên các thân cây đổ và 10 cây đứng đại diện.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua ba phương pháp bổ trợ: vợt bắt thủ công cán dài 2,5 m, bẫy đèn xu quang ban đêm sử dụng nguồn điện ắc quy 12V tại các khoảng rừng thưa ven suối, và kỹ thuật rung tán cây. Mẫu vật được xử lý theo quy chuẩn bảo vệ thực vật, sấy khô cắm kim định hình đối với bộ Cánh vẩy hoặc bảo quản trong dung dịch cồn 90 độ đối với các bộ khác.

Phương pháp phân tích số liệu dựa trên các công thức sinh thái học định lượng:

  • Chỉ số phong phú Margalef: d = (S - 1) / ln N (trong đó S là tổng số loài, N là tổng số cá thể thu được). Lý do lựa chọn: Chỉ số Margalef giúp triệt tiêu sai số do kích thước mẫu không đồng đều giữa các đợt thu bắt.
  • Hệ số tương đồng sinh thái Stugren - Radulescu: Xác định mức độ tương đồng hoặc khác biệt về thành phần loài giữa các cặp sinh cảnh, với giá trị dao động từ -1 đến 1.
  • Tần suất xuất hiện P%: Phân loại mức độ bắt gặp thành loài thường gặp (P > 50%), ít gặp (25% < P <= 50%) và ngẫu nhiên gặp (P < 25%).

Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý mẫu vật diễn ra liên tục theo chu kỳ thời gian từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 9 năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa đã ghi nhận 148 loài côn trùng thuộc 71 họ của 13 bộ khác nhau. Trong cấu trúc phân loại học, bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) chiếm ưu thế tuyệt đối với 47 loài (chiếm 31,97% tổng số loài) và 16 họ (chiếm 22,53% tổng số họ). Bộ Cánh cứng (Coleoptera) đứng thứ hai với 28 loài (chiếm 19,05%) thuộc 16 họ (chiếm 22,53%). Bộ Chuồn chuồn (Odonata) đứng thứ ba với 21 loài (chiếm 14,29%) thuộc 6 họ (chiếm 8,45%). Ngược lại, bộ Hai cánh (Diptera) và bộ Cánh mạch (Neuroptera) ghi nhận tỷ lệ thấp nhất khi mỗi bộ chỉ thu thập được 1 loài (chiếm 0,68%).

Nghiên cứu đã ghi nhận 3 loài côn trùng quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, gồm: Bướm khế (Attacus atlas) thuộc nhóm R (Hiếm), Bướm phượng cánh đuôi nheo (Leptocircus curius) thuộc nhóm T (Bị đe dọa), và Bướm phượng cánh chim chấm liền (Troides helena) thuộc nhóm E (Đang nguy cấp).

Xét theo không gian phân bố tại 4 khu vực khảo sát: Khu vực Khe Xanh đạt mức đa dạng cao nhất với 112 loài (230 cá thể, chỉ số phong phú d = 20,41); tiếp theo là Ba Tia với 85 loài (180 cá thể, d = 16,18); khu vực Yên Tử ghi nhận 73 loài (174 cá thể, d = 13,96); và khu vực Đèo Nón ghi nhận 68 loài (125 cá thể, d = 13,88).

Phân bố theo đai độ cao cho thấy quy luật suy giảm tuyến tính rõ rệt:

  • Đai dưới 100 m: Ghi nhận 124 loài, chiếm 84,35% tổng số loài.
  • Đai 100 m đến 200 m: Ghi nhận 82 loài, chiếm 55,78%.
  • Đai 200 m đến 400 m: Ghi nhận 45 loài, chiếm 30,61%.
  • Đai trên 400 m: Chỉ ghi nhận 28 loài, chiếm 19,04%.

Về mặt sinh thái chức năng, nghiên cứu xác định có tới 101 loài côn trùng gây hại thực vật (chiếm 68,24% tổng số loài), trong đó bộ Cánh vẩy và bộ Cánh cứng chiếm tỷ lệ gây hại cao nhất đối với tán lá và thân cây gỗ rừng.

Thảo luận kết quả

Chỉ số phong phú Margalef cao vượt trội tại sinh cảnh rừng thứ sinh ven suối (d = 26,24 với 135 loài) và rừng thứ sinh xa suối (d = 23,69 với 120 loài) được giải thích bởi điều kiện vi khí hậu tối ưu. Khu vực này có độ ẩm không khí trung bình đạt 82%, nhiệt độ dao động trong khoảng 18 đến 28 độ C nằm trọn trong ngưỡng hoạt động lý tưởng của côn trùng nhiệt đới (10 đến 35 độ C), cùng tầng thảm mục dày giàu dinh dưỡng. Ngược lại, sinh cảnh rừng tre nứa thuần loài có chỉ số phong phú thấp nhất (d = 15,94 với 72 loài) do cấu trúc thực vật đơn tầng làm hạn chế chuỗi thức ăn.

Hệ số tương đồng Stugren - Radulescu giữa sinh cảnh rừng thứ sinh ven suối và rừng thứ sinh xa suối đạt giá trị âm sâu (R = -0,68), phản ánh mức độ tương đồng loài rất cao do sự liên kết chặt chẽ của các thảm cây gỗ lá rộng. Trái lại, mối quan hệ giữa rừng thứ sinh và khu dân cư cây trồng nông nghiệp có hệ số R = 0,08, chứng minh sự phân hóa rõ rệt về thành phần loài khi môi trường bị tác động bởi con người.

Khi so sánh với các khu bảo tồn lân cận, con số 148 loài tại Tây Yên Tử tuy thấp hơn 1.084 loài tại Vườn quốc gia Pù Mát hay 558 loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (những nơi có thời gian điều tra đa niên), nhưng mật độ các họ giàu loài như Libellulidae (14 loài), Nymphalidae (11 loài), và Papilionidae (10 loài) tại Tây Yên Tử tương đương với các hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh Đông Bắc.

Toàn bộ các phân tích định lượng này được trình bày trực quan trong luận văn qua biểu đồ hình cột so sánh tỷ lệ họ và loài giữa 13 bộ côn trùng, biểu đồ đường thể hiện độ dốc suy giảm theo 4 đai cao, cùng hệ thống bảng ma trận thể hiện 10 cặp so sánh hệ số tương đồng sinh cảnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn tính đa dạng sinh học và phát triển bền vững tài nguyên côn trùng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất như sau:

  • Thiết lập phân vùng bảo tồn nghiêm ngặt sinh cảnh ven suối: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử chủ trì khoanh vùng bảo vệ trọng điểm 1.500 ha rừng tự nhiên ven 7 hệ thủy chính (gồm suối Ke Rỗ, Khe Đin, Đồng Rì, Suối Bài, Nước Ninh, Nước Vàng, Đá Ngang). Target metric: Giảm 100% các vụ chặt phá rừng và chăn thả gia súc ven suối trong giai đoạn 2015 đến 2018.

  • Triển khai mô hình bảo tồn và nhân nuôi bán tự nhiên các loài bướm quý: Phối hợp giữa Bộ môn Bảo vệ thực vật rừng thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp và Ban quản lý khu bảo tồn để xây dựng 2 trạm nhân nuôi thực nghiệm loài Bướm phượng cánh chim chấm liền và Bướm khế. Target metric: Gia tăng 25% mật độ cá thể của 3 loài thuộc Sách Đỏ trong tự nhiên trước năm 2020.

  • Hỗ trợ chuyển đổi sinh kế và kiểm soát hóa chất nông nghiệp vùng đệm: Ủy ban nhân dân các xã Tuấn Mậu, Thanh Luận và thị trấn Thanh Sơn phối hợp cùng Trạm Khuyến nông triển khai tập huấn quản lý dịch hại tổng hợp cho 2.811 hộ gia đình. Target metric: Cắt giảm 40% khối lượng thuốc bảo vệ thực vật hóa học độc hại sử dụng trên 50 ha nương rẫy giáp ranh rừng đặc dụng từ năm 2015 đến 2017.

  • Xây dựng hệ thống quan trắc định kỳ và cơ sở dữ liệu số hóa: Đội Kiểm lâm cơ động khu bảo tồn duy trì đo đạc định kỳ tại 40 điểm điều tra cố định 6 tháng một lần. Target metric: Số hóa 100% dữ liệu biến động quần thể côn trùng và dự báo sớm nguy cơ bùng phát của 101 loài sâu hại rừng đến năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Cung cấp tài liệu thực tiễn và phương pháp thiết lập tuyến, điểm quan trắc côn trùng định lượng phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học rừng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Sử dụng như một công trình tham khảo chuẩn mực về ứng dụng các chỉ số sinh thái Margalef và hệ số Stugren - Radulescu trong nghiên cứu phân loại côn trùng học.
  • Cán bộ Chi cục Kiểm lâm và cơ quan quản lý nông lâm nghiệp địa phương: Ứng dụng danh lục 101 loài côn trùng gây hại để xây dựng phương án phòng trừ sinh học sâu đục thân, sâu ăn lá mà không làm ảnh hưởng đến nguồn gen thiên địch.
  • Các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia bảo tồn động vật hoang dã: Khai thác dữ liệu phân bố của các loài trong Sách Đỏ Việt Nam như Bướm phượng cánh đuôi nheo để xây dựng các dự án tài trợ bảo tồn nguồn gen quý hiếm cấp khu vực Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  • Luận văn ghi nhận tổng cộng bao nhiêu loài côn trùng tại Tây Yên Tử? Nghiên cứu đã điều tra và định danh chính xác 148 loài côn trùng thuộc 71 họ của 13 bộ. Trong đó, bộ Cánh vẩy chiếm tỷ lệ cao nhất với 47 loài (31,97%), tiếp theo là bộ Cánh cứng với 28 loài (19,05%) và bộ Chuồn chuồn với 21 loài (14,29%).

  • Có những loài côn trùng quý hiếm nào được phát hiện trong khu bảo tồn? Nghiên cứu ghi nhận 3 loài côn trùng có tên trong Sách Đỏ Việt Nam: Bướm khế (Attacus atlas, cấp R - Hiếm), Bướm phượng cánh đuôi nheo (Leptocircus curius, cấp T - Bị đe dọa), và Bướm phượng cánh chim chấm liền (Troides helena, cấp E - Đang nguy cấp).

  • Tại sao đa dạng loài côn trùng lại tập trung nhiều nhất ở độ cao dưới 100 mét? Đai độ cao dưới 100 m tập trung tới 124 loài (84,35% tổng số loài) do sở hữu nền nhiệt lý tưởng từ 18 đến 28 độ C, độ ẩm bình quân 82%, đất feralit ẩm giàu dinh dưỡng và tầng thảm thực vật nhiệt đới phong phú cung cấp nguồn thức ăn dồi dào.

  • Phương pháp định lượng nào được sử dụng để phân tích cấu trúc quần xã côn trùng? Tác giả sử dụng chỉ số phong phú Margalef để đánh giá độ giàu loài và công thức Stugren - Radulescu để đo lường mức độ tương đồng thành phần loài giữa 7 dạng sinh cảnh trên 40 điểm điều tra định lượng bán kính 10 m.

  • Mối đe dọa lớn nhất đối với hệ côn trùng tại khu bảo tồn Tây Yên Tử là gì? Các mối đe dọa chủ yếu gồm hoạt động chuyển đổi đất rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ, cùng việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu của 2.811 hộ dân sinh sống tại khu vực vùng đệm.

Kết luận

  • Xây dựng thành công bộ cơ sở dữ liệu định danh đầu tiên gồm 148 loài côn trùng thuộc 71 họ của 13 bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử.
  • Xác định quy luật phân bố sinh thái đặc trưng: Đa dạng côn trùng đạt đỉnh tại sinh cảnh rừng thứ sinh ven suối (chỉ số d = 26,24) và tập trung chủ yếu ở đai cao dưới 100 m (chiếm 84,35%).
  • Phát hiện và ghi nhận 3 loài bướm quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam cùng 101 loài côn trùng gây hại cần kiểm soát sinh học.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh, khoanh nuôi bảo tồn và phát triển sinh kế cộng đồng vùng đệm cho 2.811 hộ dân.
  • Thiết lập phương pháp luận và hệ thống 40 điểm điều tra cố định làm tiền đề khoa học cho các chương trình quan trắc sinh thái dài hạn.

Kế hoạch tiếp theo cần tập trung mở rộng phạm vi điều tra lên các đai độ cao trên 900 m và nghiên cứu sâu về nhóm côn trùng đất trong giai đoạn 2015 đến 2020. Các cơ quan quản lý và nhà khoa học cần tăng cường phối hợp thực thi các giải pháp bảo vệ rừng để gìn giữ vẹn toàn tài nguyên đa dạng sinh học vô giá tại vùng rừng Tây Yên Tử.