Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lý chi Bảo hiểm thất nghiệp Chương 2: Thực trạng quản lý Chi BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2010-2014 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội. 6 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp 1. Thất nghiệp và việc làm trong nền kinh tế thị trường Trong cuộc sống, việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện.
Đây là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Trong nền kinh tế kế hoạch, gần như không có áp lực về vấn đề việc làm do mọi vấn đề của nền kinh tế đều được Nhà nước quản lý bằng mệnh lệnh hành chính, nhà nước sẽ sắp xếp, tổ chức bộ máy nhân sự. Tuy nhiên khi bước sang nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động của thị trường hoạt động theo quy luật cung cầu, cơ chế phân bổ nguồn lực có thể dẫn tới bất bình đẳng là một trong những nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp luôn là nỗi lo và gánh nặng đối với bất kỳ quốc gia nào.Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã định nghĩa: “ Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”[Giáo trình Bảo hiểm- Trường đại học Kinh tế quốc dân- Chủ biên: TS.Thực tế phát triển xã hội cho thấy nguồn lao động xã hội thường tăng nhanh hơn cơ hội việc làm, do đó luôn có một bộ phận người lao động thiếu hoặc không có việc làm, họ là những người thất nghiệp. Có nhiều nguyên nhân gây ra thất nghiệp như chu kỳ kinh doanh, tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã giải phóng một lượng lớn sức lao động, sự gia 7 tăng dân số và nguồn lao động, tâm lý của người lao động. Thất nghiệp xảy ra ở mọi xã hội, chỉ khác nhau về quy mô tuỳ theo điều kiện từng quốc gia. Khi xảy ra tình trạng thất nghiệp, xã hội và người lao động sẽ phải chịu rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực như: - Kinh tế suy thoái, nguồn lực lao động bị lãng phí, sản xuất bị đình trệ; - Người lao động mất việc làm sẽ không có thu nhập, đời sống khó khăn, tâm lý vì vậy cũng bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực; - Xã hội có nhiều người thất nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn, khủng hoảnglòng tin của người dân đối với người lãnh đạo, dẫn đến nhiều hệ luỵ đi kèm như trộm cắp, nghiện ngập, cờ bạc,… Với những ảnh hưởng tiêu cực đó, cần thiết phải có một chính sách để hỗ trợ người thất nghiệp vượt qua được những khó khăn tạm thời, đồng thời cũng là một chính sách an sinh thể hiện tính nhân văn của xã hội.
Chính sách BHTN ra đời như “chiếc phao cứu sinh” cho người lao động khi bị mất việc làm, nó có vai trò lớn trong việc khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp.2 Bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm Nhiều nước trên thế giới đã xuất hiện BHTN từ lâu, trong đó phải kể đến Đan Mạch là nước ra đời BHTN sớm nhất, từ năm 1907. Ngày nay, BHTN được coi là một trong những chính sách có cai trò to lớn khắc phục tình trạng thất nghiệp. Khái niệm về BHTN được hiểu như sau: “BHTN là một chính sách nằm trong hệ thống các chính sách kinh tế- xã hội của quốc gia, là loại hình bảo hiểm bồi thường cho người lao động bị thiệt hại về thu nhập do bị mất việc làm”.
[Giáo trình bảo hiểm – TS. Nguyễn Văn Định- Đại học Kinh tế quốc dân] Ở Việt Nam, BHTN là một phần của hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH), được thiết lập nhằm hỗ trợ người lao động và gia đình họ ổn định 8 cuộc sống khi gặp rủi ro không có việc làm tạm thời, không những trợ cấp tài chính cho người thất nghiệp mà còn hỗ trợ cho họ học nghề, tư vấn tìm việc làm. BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người, được nhận biết qua một số đặc điểm sau: - Đối tượng bảo hiểm của BHTN chính là thu nhập của người lao động; - Không có hợp đồng trước như các loại hình bảo hiểm thương mại khác; - Người tham gia và người thụ hưởng quyền lợi là một; - Không có việc chuyển rủi ro của những người bị thất nghiệp sang những người khác có khả năng thất nghiệp. - BHTN không có dự báo chính xác về số lượng và phạm vi.
Trong những thời kỳ nền kinh tế bị khủng hoàng thì có thể bị thiệt hại về kinh tế rất lớn. - BHTN do Nhà nước quản lý điều chỉnh mọi đối tượng lao động. Lịch sử ra đời và phát triển của chính sách BHTN cho thấy có hai mô hình quản lý BHTN + Trợ cấp thất nghiệp do Chính phủ chi trả: Chính phủ sẽ thành lập một cơ quan chuyên trách, độc lập với Liên đoàn lao động để quản lý BHXH cũng như BHTN. Cơ quan này sẽ ban hành các quy định chung thực hiện chính sách BHTN từ trung ương đến địa phương và chịu trách nhiệm trong việc quản lý thu, chi BHTN.
Mô hình này hướng đến việc đưa chính sách BHTN trở thành chế độ bắt buộc như là một trụ cột của hệ thống an sinh xã hội. - Trợ cấp thất nghiệp vừa do Liên đoàn Lao động vừa do Chính phủ chi trả: theo mô hình này, hệ thống BHTN được thực hiện theo chế độ tự nguyện, các Liên đoàn lao động chịu trách nhiện chính đối với việc quản lý BHTN chứ không phải do các cơ quan của Chính phủ mặc dù Chính phủ có rót nguồn trợ cấp vào quỹ BHTN. Người lao động sẽ phải trả phí thành viên cho 9 nhiều chương trình khác nhau do công đoàn hỗ trợ, sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ thất nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.2 Vai trò của BHTN - BHTN tạo ra chỗ dựa về vật chất và tinh thầncho NLĐ khi bù đắp một phần thu nhập thông qua chế độ trợ cấp thất nghiệp và các chế độ khác, vừa giúp họ ổn định cuộc sống khi bị mất việc làm vừa tạo cơ hội để họ có thể sớm quay lại thị trường lao động. - Đối với NSDLĐ, gánh nặng tài chính của họ sẽ được san sẻ khi những NLĐ tại doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ ra một khoản chi lớn để giải quyết chế độ cho người lao động đặc biệt trong thời kỳ khó khăn, sản xuất bị thu hẹp, nhiều NLĐ thất nghiệp.
Quỹ BHTN sẽ chi trả cho người lao động khi họ bị mất việc làm thay cho NSDLĐ. - Đối với Chính phủ, ngân sách sẽ giảm bớt chi phí khi tình trạng thất nghiệp gia tăng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, tạo sự chủ động về tài chính hơn cho Chính phủ đồng thời có cơ chế kiểm soát rủi ro về xã hội và chính trị khi tỷ lệ thất nghiệp gia tăng. - Đối với xã hội, BHTN góp phần đảm bảo lợi ích của các bên trong quá trình thực hiện chính sách, mang tính chất tương trợ, số đông bù số ít. Chính sách BHTN càng được thực hiện tốt thì xã hội càng ổn định, phát triển và góp phần sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.2 Quản lý chi BHTN 1.1 Các khái niệm liên quan trong quản lý chi BHTN.
Qua nghiên cứu bản chất, nội dung chi BHTN trong các quy định của Luật và văn bản hướng, có thể đưa một số khái niệm liên quan đến quản lý chi BHTN sau: Dưới góc độ an sinh xã hội, chi BHTN là việc thực hiện chính sách đối với người tham gia BHTN, nhằm bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một 10 phần thu nhập của người lao động khi họ bị mất việc làm và đang có nhu cầu tìm việc, đồng thời chi BHTN cũng chi cho một số hoạt động khác nhằm giúp người lao động thất nghiệp trở lại làm việc. Dưới góc độ kinh tế, chi BHTN là một khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc khi họ đáp ứng đủ điều kiện theo Luật định. Khoản chi này phải đảm bảo được tính ổn định hoặc tương đối ổn định cuộc sống cho người mất việc làm và hỗ trợ họ tìm việc. Xét về tính chất và mục đích của khoản chi, chi BHTN bao gồm chi TCTN, chi hỗ trợ học nghề, chi hỗ trợ tư vấn tìm việc làm, chi mua thẻ BHYT cho người thất nghiệp Quản lý là tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Chức năng của chủ thể quản lý là hoạch định mục tiêu, chính sách, kế hoạch thực hiện mục tiêu; tổ chức thực hiện mục tiêu và kiểm tra, giám sát để hoạt động của hệ thống quản lý diễn ra theo đúng kế hoạch, quy trình đã được thiết lập và đạt được mục tiêu mong muốn. Quản lý chi BHTN là hệ thống những công việc của cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH liên quan đến chi trả BHTN lên các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra như đảm bảo tính công bằng, minh bạch, an toàn, hạn chế tình trạng gian lận, trục lợi quỹ BHTN.2 Nội dung chi bảo hiểm thất nghiệp Chi BHTN chỉ xuất hiện khi người lao động tham gia BHTN bị thất nghiệp. Mặc dù không phải chi trong một thời gian dài như lương hưu, nhưng đây là khoản chi khá lớn, vì chi BHTN không những phải đảm bảo cung cấp phương tiện sống cơ bản cho người lao động sau khi mất việc làm, mà còn giúp họ được tham gia đào tạo lại, nâng cao tay nghề để có thể 11 tìm kiếm việc làm mới. Hơn nữa, để chi đúng chế độ, đúng chính sách, kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHTN thì cơ quan BHXH phải nắm được thông tin đầy đủ về người tham gia BHTN, tình trạng thất nghiệp cũng như hoàn cảnh của người thất nghiệp để hoàn thành mục tiêu của BHTN là vừa góp phần ổn định cuộc sống của người thất nghiệp, vừa giảm tỷ lệ thất nghiệp.