Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về quản lý chất thải rắn nguy hại 1. Các khái niệm về chất thải * Chất thải: Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 LBVMT năm 2005 thì: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Phụ thuộc vào các tiêu chí khác nhau, chất thải có thể được phân chia thành các loại như sau: - Căn cứ vào nguồn phát sinh: có thể chia thành 3 loại: chất thải sinh hoạt, CTYT, chất thải công nghiệp.
- Căn cứ vào trạng thái tồn tại của chất thải có thể chia thành: CTR, chất thải lỏng, chất thải khí và các chất thải ở dạng khái khác. - Căn cứ vào độ độc hại của chất thải, chia thành 2 loại: chất thải thông thường và CTNH. * Chất thải rắn: Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý CTR thì “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại”.
* Chất thải nguy hại: Theo quy định tạo khoản 11 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định: “CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm quản lý CTNH Khái niệm quản lý CTNH lần đầu tiên được quy định tại Khoản 3, Điều 3 quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ, theo đó “Quản lý CTNH là các hoạt động kiểm soát CTNH trong suốt quá trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu huỷ CTNH”. Trong Luật Bảo vệ môi trường 2005, quản lý CTNH được giải thích như sau: Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải.
Sau đó, khái niệm này được chỉnh sửa lại tại Thông tư số 12/2012/TT- BTNMT ngày 14/4/2011 (sau đây gọi tắt là Thông tư 12) và được nêu tại khoản 1, Điều 3 như sau: Quản lý CTNH là các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH Tại thông tư này, Các nhà làm luật đã liệt kê hàng loạt hoạt động của việc quản lý CTNH theo một quy trình chặt chẽ hơn, bao gồm cả những hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại CTNH. Như vậy, trách nhiệm quản lý chất thải của cơ quan Nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc quản lý CTNH không chỉ có từ khi chất thải đó phát sinh, mà các chủ thể trên còn có trách nhiệm trong việc phòng ngừa, giảm thiểu bằng việc áp dụng mọi biện pháp kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến… nhằm hạn chế lượng CTNH phát sinh trên thực tế. Theo quy định trên, quản lý CTNH có những đặc điểm sau: (1) Trách nhiệm quản lý chất thải thuộc về cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý CTNH và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm quản lý CTNH trong phạm vi chức năng luật định.
Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý CTNH là những chủ thể có những hoạt động liên quan trực tiếp đến CTNH như: chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (2) Nội dung quản lý CTNH là các hoạt động mà các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện. Cụ thể là: các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý CTNH, thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm… các tổ chức, cá nhân có liên quan phải tiến hành những hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý… CTNH. Quy trình quản lý CTNH được thực hiện theo 5 giai đoạn.
Đó là: Giai đoạn 1: Quản lý nguồn phát sinh CTNH. Đây là việc tiến hành các biện pháp để quản lý CTNH ngay tại chính nguồn phát sinh ra chất thải đó. Kiểm soát CTNH tại nguồn là một công việc khá phức tạp. Cách thông thường nhất được nhiều quốc gia sử dụng để giải quyết những vấn đề trên là tiến hành thủ tục đăng ký cấp giấy phép đối với các chủ nguồn thải CTNH, đặc biệt là trong ngành công nghiệp.
Giai đoạn 2: Phân lập, thu gom và vận chuyển CTNH. Giai đoạn này được thực hiện bằng việc phân loại, thu gom toàn bộ CTNH tại tất cả các nguồn phát sinh ra chúng. Sau khi tiến hành việc thu gom, chất thải sẽ được vận chuyển đến khu xử lý và thải bỏ hoặc đến trạm trung chuyển hay đến nơi lưu giữ tạm thời. Giai đoạn 3: Xử lý trung gian.
Giai đoạn này được tiến hành bởi những phương pháp xử lý khác nhau như: xử lý cơ học, xử lý hóa học, sinh học và nhiệt… nhằm làm giảm khối lượng CTNH, giảm thiểu hoặc loại bỏ độc tính để phù hợp hơn với khâu thải bỏ cuối cùng. Giai đoạn 4: Chuyên chở CTNH đi xử lý tiếp. CTNH sau khi xử lý trung gian sẽ được vận chuyển bằng những phương tiện chuyên dụng đến nơi xử lý cuối cùng của quy trình. Giai đoạn 5: Thải bỏ chất thải.
Những phần chất thải khi không còn được tái chế và tái sử dụng sẽ được thải bỏ bằng những cách thức khác nhau như:chôn lấp hoặc thiêu đốt. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc quản lý CTNH có thể được thực hiện bằng nhiều công cụ như: kinh tế, pháp lý, kĩ thuật… trong đó công cụ pháp lý được coi là phương tiện hiệu quả hàng đầu trong công tác quản lý CTNH, thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. Kinh nghiệm của nhiều nước đã chứng minh rằng, muốn quản lý chất thải tốt thì phải đảm bảo các yếu tố sau: - Có hệ thống quản lý chất thải rõ ràng và hoạt động có hiệu quả; - Có cơ sở pháp lý để quản lý; - Có phương tiện và điều kiện để quản lý như thiết bị đo lường, kiểm tra, kiểm soát nguồn thải; - Có công nghệ xử lý chất thải thích hợp. Như vậy, hệ thống pháp lý quy định về quản lý CTNH chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các công cụ được sử dụng để quản lý CTNH mà các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam đang sử dụng.
Do chất thải nguy hại thường có nguồn gốc phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên pháp luật môi trường cũng quy định trách nhiệm của nhiều cơ quan khác nhau trong việc quản lý loại chất thải này. Cụ thể: - Bộ tài nguyên và môi trường thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về chất thải nguy hại trong phạm vi toàn quốc; chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các hoạt động quản lý chất thải nguy hại. Ban hành các chỉ tiêu môi trường cho việc lựa chọn bãi chôn lấp chất thải nguy hại các chỉ tiêu kỹ thuật cho việc thiết kế, xây dựng và vận hành các khu lưu giữ, các bãi chôn lấp chất thải nguy hại bảo đảm vệ sinh môi trường; lựa chọn và tư vấn các công nghệ xử lý chất thải nguy hại; phối hợp với Bộ Tài chính ban hành mức thu phí, lệ phí quản lý chất thải nguy hại. Hướng dẫn nội dung và thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của cơ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sở thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy và các bãi chôn lấp chất thải nguy hại.
(Điều 21 Quy chế quản lý CTNH) - Bộ xây dựng có trách nhiệm Hướng dẫn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc quy hoạch xây dựng các khu xử lý chất thải nguy hại hợp vệ sinh, các bãi chôn lấp chất thải nguy hại phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Phối hợp với ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc chỉ đạo các Sở Giao thông Công chính trong việc lập quy hoạch và kế hoạch xây dựng các khu lưu giữ, các cơ sở xử lý, tiêu hủy, các bãi chôn lấp chất thải nguy hại hợp vệ sinh, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý chất thải (bao gồm cả chất thải nguy hại) của địa phương. (Điều 22 Quy chế quản lý CTNH) - Bộ Công thương có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và triển khai các biện pháp hữu hiệu buộc các chủ nguồn thải phải tuân thủ các quy định của Quy chế. Trường hợp các chủ nguồn thải không có khả năng tự thực hiện được việc thu gom, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại, thì yêu cầu các chủ nguồn thải phải ký hợp đồng với các chủ thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại.
Phối hợp với Bộ Tài nguyên và môi trường tổ chức điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do chất thải nguy hại gây ra tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc Bộ Công Thương quản lý. (Điều 23 Quy chế quản lý CTNH) - Bộ y tế có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và có các biện pháp hữu hiệu buộc các bệnh viện, trạm y tế, cơ sở dịch vụ y tế tuân thủ các quy định của Quy chế. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Xây dựng trong việc quy hoạch, lựa chọn công nghệ, thiết bị, đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống lò thiêu đốt chất thải y tế đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam, ban hành quy chế quản lý chất thải y tế. (Điều 24 Quy chế quản lý CTNH) - Bộ quốc phòng, Bộ công an có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và triển khai thực hiện các biện pháp hữu hiệu buộc các chủ nguồn thải thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tuân thủ các quy định về quản lý chất thải nguy hại.
Các chủ nguồn thải 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất thải được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xác nhận là các chủ nguồn thải hoạt động thuần túy trong lĩnh vực kinh tế phải chấp hành đầy đủ các quy định về quản lý chất thải nguy hại.