đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của khóa luận. Chương hai trình bày về tổng quan bao gồm ba nội dung là tổng quan về tài liệu nghiên cứu; tổng quan về địa bàn nghiên cứu; tổng quan về đối tượng nghiên cứu. Phần tổng quan về địa bàn nghiên cứu nêu lên những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu. Chương ba là nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Về nội dung nghiên cứu có các định nghĩa, khái niệm, công thức và các vấn đề có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Về phương pháp nghiên cứu đề tài chỉ đề cập đến cách thức tiếp cận vấn đề nghiên cứu. 3 Chương bốn là chương kết quả và thảo luận. Đây là phần chính của khóa luận, Trong chương này sẽ trình bày hiện trạng phát sinh thị trường cho việc thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH, công tác quản lý chất thải nguy hại tại TPHCM, và hiện trạng quản lý chất thải nguy hại tại các DN trong các KCN & KCX.
Từ đó, đ ề xuất công thức tính phí và cho ví dụ minh họa cụ thể. Chương năm là kết luận và kiến nghị, Ở chương này khóa luận sẽ trình bày hai phần chính đó là phần kết luận và phần kiến nghị. Phần kết luận sẽ nói ngắn gọn những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện khóa luận cũng như những hạn chế của khóa luận. Phần kiến nghị sẽ trình bày những phương hướng đ ể quản lý chất thải nguy hại một cách tốt hơn.
Trên đây là tất cả những nội dung mà khóa luận sẽ trình bày một cách cụ thể ở từng chương một 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Về tài liệu nghiên cứu, đề tài tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau nhưng tất cả đều liên quan mật thiết với những mục tiêu mà đề tài đã đề ra, Những luận văn tốt nghiệp của các khóa trước, các nghiên cứu của các tổ chức, các nhà khoa học, bài giảng của giáo viên, những bài viết trên các báo điện tử, kênh thông tin trên internet là những nguồn thông tin tham khảo quan trọng của đề tài. Có thể nói các nghiên cứu về chất thải nguy hại thực hiện trên địa bàn thành phố mới được quan tâm trong vài năm trở lại đây do sự phát triển các ngành nghề sản xuất tại các cụm công nghiệp, khu công nghiệp đã làm gia tăng lượng chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại rất lớn. Tuy nhiên những nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá hiện trạng và dự báo lượng chất thải nguy hại phát sinh mà chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ về mức độ tác hại của chất thải nguy hại từ công nghiệp đ ến sức khỏe của người dân và môi trường của thành phố.
Đây cũng là một hạn ch ế trong công tác quản lý và xây dựng các chính sách kiểm soát l ượng chất thải nguy hại. Tuy nhiên nhiều nước trên thế giới nhất là những nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Canada,. Vấn đề quản lý chất thải nguy hại rất được chú tr ọng, những nước này đã xây dựng các công cụ kinh tế như phí phát sinh CTNH, thuế, lệ phí hành chính quản lý CTNH với mục đích nhằm tạo một nguồn thu cho các quỹ liên quan đến CTNH như: quỹ xử lý CTNH, quỹ quản lý chất thải. Với nguồn thu này cơ quan quản lý sẽ dùng vào việc nghiên cứu, tư vấn kỹ thuật quản lý, xử lý cho các doanh nghiệp, giải quyết các sự cố môi trường do CTNH gây ra, đồng thời tăng cường năng lực kiểm tra giám sát tình hình quản lý CTNH tại các doanh nghiệp.
Điển hình là việc tính phí phát sinh CTNH ở bang Oregon nước Mỹ. Bang Oregon chia các nguồn CTNH được phân theo 3 nhóm quy mô khác nhau Nguồn thải được miễn phí có điều kiện: là nguồn thải có lượng chất thải trong bất kỳ tháng nào cũng đều <100 kg CTNH (hoặc <1 kg CTNH cấp tính). Nguồn thải số lượng nhỏ hoặc nguồn thải có số lượng lớn : là nguồn thải có Lượng CTNH tích lũy tại chỗ >1. Nguồn phát sinh CTNH với số lượng lớn: Tích lũy tại chỗ trên 1 kg CTNH cấp ở bất cứ lúc nào.
Phí sản sinh ra CTNH được áp dụng cho các nguồn thải số lượng lớn và các nguồn thải có số lượng nhỏ trong vòng 1 năm. Mức phí được tính như sau: Phí cơ bản × khối lượng mỗi loại CTNH × hệ số phí Trong đó: Phí cơ bản là 110$ / tấn Hệ số phí nằm trong khoảng từ 0 đến 2 theo phương pháp quản lý chất thải cho bởi bảng sau: Bảng 2. Hệ Số Phí Theo Phương Pháp Quản Lý CTNH Phương pháp quản lý Hệ số phí Phương pháp quản lý không biết hoặc không được báo cáo 2,00 Đổ ra đất 1,50 Thiêu đốt 1,00 Xử lý chất vô cơ trong nước 1,00 Xử lý chất hữu cơ trong nước, kết hợp xử lý chất hữu cơ và 1,00 vô cơ trong nước Xử lý bùn 1,00 Các kiểu xử lý khác 1,00 Ổn định 1,00 Thu hồi năng lượng (tái sử dụng chất thải như là một nhiên liệu) 0,75 Pha trộn với nhiên liệu 0,75 Trung hòa bên ngoài cơ sở 0,75 Thu hồi các dung môi thải 0,50 Thu hồi lại các kim loại (để tái sử dụng) 0,50 Các kiểu thu hồi và tái sinh khác 0,50 CTNH lỏng không được quản lý tức thời trong lúc sinh ra, chỉ 0,50 được xử lý bằng biện pháp trung hòa tại chỗ hoặc bằng các công 6 trình đơn vị xử lý nước thải Được phép thải bỏ theo quy định của Đạo luật nước sạch liên 0,00 bang phần 402 hoặc 307b Nguồn tin: Phòng Chất lượng Môi trường của tiểu bang Oregon, tháng 7/2005 2. Tổng quan về điều kiện tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh 2.
Lịch sử hình thành Sài Gòn cổ xưa được thành lập từ năm 1623, nhưng tới năm 1698, Chúa Nguyễn mới cử Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Phương Nam, khai sinh ra thành phố Sài Gòn. Năm 1911, Sài Gòn là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đ ại ra đi tìm đường cứu nước, khi đất nước thống nhất, Quốc Hội khoá VI họp ngày 2/7/1976 đã chính thức đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí địa lí Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 10 0 38’ vĩ độ bắc và 106 0 22’ – 106 054’ kinh độ đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp hai tỉnh Long An và Tiền Giang.
Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ. Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn/năm. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km.
Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây. Có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình (quận 9). Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ).
Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m. 7 Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn. Vùng này có độ cao trung bình 5-10m. Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt.Khí hậu - Thời tiết Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa - khô rõ ràng.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất, qua các yếu tố khí tượng chủ yếu, cho thấy những đ ặc trưng khí hậu Thành Phố Hồ Chí Minh như sau: Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung bình/tháng 160-270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 27 0C.
Nhiệt độ cao tuyệt đối 400C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,8 0C. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28,80C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25,70C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25-28 0C. Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị.
Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.718 mm (1908) và năm nhỏ nhất 1. Số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày. Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất. Các tháng 1,2,3 mưa r ất ít, lượng mưa không đáng kể.
Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc. Ðại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam. Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân mùa mưa 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và mức thấp tuy ệt đối xuống tới 20%. 8 Về gió, Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và chủ yếu là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc.
Gió Tây -Tây Nam từ Ấn Ðộ Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10. Gió Bắc- Ðông Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 2.