Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu Luan van 4 chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới. Hiện tại có hai định nghĩa đang được sử dụng ở Việt Nam. Theo Tiến trình Hensinki, QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2006) Theo các định nghĩa trên, thì QLRBV được hiểu là hoạt động nhằm ngăn chặn được tình trạng mất rừng, mà trong đó việc khai thác, lợi dụng rừng không mâu thuẫn với việc duy trì diện tích và chức năng đầy đủ của rừng (sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ.; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất.; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ di tích lịch sử danh lam thắng cảnh.
Quản lý rừng bền vững nhằm phát huy đồng thời những giá trị về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của rừng, cụ thể; Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng) (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2006). Luan van 5 Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2006). Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2006). Đồng thời hiệu quả về môi trường của rừng hoàn toàn có thể xác định được bằng giá trị kinh tế.
Bởi vì, thực chất việc nâng cao giá trị về môi trường sinh thái của rừng sẽ góp phần làm giảm những chi phí cần thiết để phục hồi và ổn định môi trường sống. Như vậy, quản lý sử dụng rừng bền vững đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách, một giải pháp quan trọng cho sự tồn tại lâu dài của xã hội loài người và thiên nhiên (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2006). Quản lý tài nguyên rừng bền vững trên thế giới Hệ sinh thái rừng rất phức tạp và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài. Do đó, các tiêu chí để quản lý rừng bền vững phải liên tục thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới.
Các tiêu chí này phải phản ánh bối cảnh của quốc gia và các điều kiện sinh thái, môi trường cụ thể cũng như các khía cạnh xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tinh thần (Internationak Union for Conservation of Nature, 2008). Thách thức đối với hệ thống chứng nhận rừng toàn cầu là việc xây dựng một cách tiếp cận đủ linh hoạt để phản ánh các hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia, nhưng cũng cần phải phù hợp với các yêu cầu của quốc tế. Cách tiếp cận này cần đảm bảo các yêu cầu thực tiễn và các tiêu chí thực tế để quản lý rừng bền vững trên phạm vi toàn cầu và cần được cập nhật liên tục để kết hợp các kiến thức mới cũng như thay đổi theo mong đợi (Internationak Union for Conservation of Nature, 2008). Luan van 6 Trên thực tế, nhiều khu rừng, miền rừng, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, vẫn còn thiếu sự quản lý bền vững.
Bên cạnh đó, một số quốc gia vẫn còn thiếu các chính sách về lâm nghiệp, khung thể chế, luật pháp và các biện pháp khuyến khích để thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Trong khi một số quốc gia khác lại thiếu kinh phí và năng lực kỹ thuật về quản lý rừng (Nguyễn Hồng Nhung, 2017). Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được các nước có nền kinh tế phát triển như: Thụy Điển, Nhật Bản, Pháp,… quan tâm từ rất sớm. Chính phủ các nước này đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm xây dựng và phát triển quỹ rừng của quốc gia như: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển lâm nghiệp, hỗ trợ các hoạt động lâm sinh, cho vay vốn với lãi suất thấp,… Tuy nhiên, hiện nay tài nguyên rừng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đang ngày càng suy giảm cả về số lượng và chất lượng.
Theo thống kê của tổ chức FAO, trong vài chục năm gần đây, trên thế giới đã mất đi khoảng trên 200 triệu ha rừng tự nhiên, đồng thời nhiều diện tích rừng còn lại trong tình trạng thoái hóa nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái (Võ Đại Hải, 2005). Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập trung đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia phát triển. Trong giai đoạn này, vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ít được quan tâm. Vì vậy, họ chỉ biết khai thác tài nguyên rừng lấy lâm sản và đất đai để canh tác nông nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức tài nguyên rừng và làm cho tài nguyên rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng.
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà lâm học Đức (G.Hartig -1840; Heyer-1883; Hundeshagen - 1926, dẫn theo Lê Thiên Vinh, 2007) cũng đã nghiên cứu và đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đều tuổi; các nhà lâm học Pháp (Gournand - 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley - 1922) đã nghiên cứu và đề ra phương pháp Luan van 7 kiểm tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi (Lê Thiên Vinh, 2007). Tại châu Âu, Phần Lan là quốc gia có diện tích rừng che phủ lớn nhất, 86% diện tích đất là rừng, theo Hiệp hội rừng Phần Lan. Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quốc gia này bởi nó cung cấp gỗ, thực phẩm (nấm, các loại quả) và không khí trong lành. Đồng thời rừng là nhà của nhiều loại thực vật, động vật, côn trùng, vi sinh vật (Robert Munroe, 2013).
Người dân Phần Lan đặc biệt quan tâm đến vấn đề quản lý rừng bền vững vì tầm quan trọng và sự cần thiết của rừng trong cuộc sống của họ. Vào thế kỷ 19, Đạo luật Rừng đầu tiên đã được Chính phủ Phần Lan thông qua vào năm 1886, trong đó có điều luật cấm phá rừng (Robert Munroe, 2013). Ngày nay, quyền sở hữu rừng được pháp luật bảo vệ và chứng nhận tự nguyện. Điều này có nghĩa là chủ rừng phải đảm bảo rằng sau khi khai thác thì một khu rừng mới sẽ được trồng thay thế rừng đã chặt.
Hầu hết các khu rừng thương mại trong cả nước đều được chứng nhận PEFC (Chương trình tiêu chuẩn chứng nhận rừng) và tiêu chuẩn FSC (Hội đồng quản lý rừng) với tỷ lệ tương ứng mỗi loại là 90% và 6%. Chứng nhận xác lập tiêu chuẩn về lâm sinh và giúp nâng cao sự đa dạng sinh học rừng của Phần Lan. Theo số liệu của Hiệp hội Lâm nghiệp Phần Lan năm 2016, diện tích rừng được bảo vệ ở Phần Lan đã tăng gấp 3 lần trong suốt 35 năm qua (Robert Munroe, 2013). Việc sử dụng gỗ từ các nguồn được chứng nhận giúp các công ty đảm bảo rằng tất cả gỗ đều được khai thác một cách hợp pháp và có thể truy nguyên lại môi trường tự nhiên của chúng, ngăn chặn việc xuất - nhập gỗ, bột giấy bất hợp pháp.
Đối với mỗi cây được thu hoạch sẽ có 4 cây con mới được trồng thay thế. Tính bền vững trong quản lý rừng hàm ý rằng hầu hết các phần của mỗi cây sẽ được sử dụng cho những mục đích phù hợp nhất, giúp giảm lượng chất thải trong toàn bộ quá trình. Ví dụ, thân chính được sử dụng cho mục đích xây dựng, Luan van 8 các phần nhỏ hơn của thân cây sẽ được dùng làm bột giấy, các phần khác như cành cây sẽ trở thành nguồn cung nguyên liệu cho lĩnh vực năng lượng sinh học (Robert Munroe, 2013). Một quốc gia châu Âu khác có độ phủ xanh xếp thứ 15 thế giới đó là Thụy Điển (69,2% diện tích đất là rừng).
Ở Thụy Điển, tính bền vững được xác định trên các lĩnh vực: Kinh tế, xã hội, sinh học và tính bền vững được tuyên bố là nền tảng phát triển lâm nghiệp của quốc gia này (Robert Munroe, 2013). Sự bền vững về kinh tế có nghĩa là sản xuất gỗ lâu dài có lợi nhuận đủ để đảm bảo cho các hoạt động lâm nghiệp và công tác quản lý. Sự bền vững xã hội bao gồm các vấn đề như dân số địa phương, quyền lợi của người lao động, các vấn đề liên quan đến giải trí, các cơ hội cho người dân ở cả địa phương và toàn quốc để tồn tại lâu dài dựa vào lâm nghiệp. Tính bền vững sinh học đề cập đến năng lực sản xuất lâu dài của đất đai, việc bảo tồn các quá trình sinh thái tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học (Robert Munroe, 2013).
Tại Thụy Điển, việc quản lý rừng bền vững phải tuân thủ các quy định pháp luật. Tất cả các khu rừng sau khi thu hoạch phải được tái sinh, trồng rừng mới theo kế hoạch. Ngoài Luật về lâm nghiệp, Thụy Điển cũng áp dụng hệ thống các chứng nhận quốc tế tự nguyện FSC và PEFC. Khoảng 2/3 diện tích đất lâm nghiệp của Thụy Điển đã được chứng nhận theo các quy tắc này (Robert Munroe, 2013).
Chính phủ Thụy Điển luôn đánh giá cao tầm quan trọng của nguồn tài nguyên vô hạn là rừng, khi được quản lý đúng cách. Trong quá trình phát triển, cây xanh hấp thụ CO2 từ khí quyển. Trong suốt vòng đời, các sản phẩm gỗ tiếp tục hấp thụ và cô lập CO2. Trong một năm điển hình, sự kết hợp giữ việc thu hoạch rừng của Thụy Điển và tổng lượng CO2 hấp thu đã vượt hơn lượng phát thải CO2 từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong vận tải (Robert Munroe, 2013).