Tổng quan nghiên cứu

Khai thác khoáng sản đóng vai trò then chốt trong phát triển công nghiệp nặng nhưng cũng đặt ra những thách thức môi trường nghiêm trọng. Tại tỉnh Thái Nguyên, hiện có khoảng 200 điểm mỏ với 24 loại khoáng sản rắn, đóng góp doanh thu hơn 6.164 tỷ đồng và tạo việc làm cho 5.759 lao động vào năm 2017. Tuy nhiên, hoạt động khai thác quặng sắt lộ thiên kéo dài nhiều thập kỷ đã làm suy thoái nghiêm trọng cảnh quan địa hình, xáo trộn tầng đất mặt và gây ô nhiễm nguồn nước ngầm lẫn nước mặt.

Đề tài tập trung giải quyết bài toán suy thoái môi trường và suy giảm chất lượng sống của cộng đồng dân cư quanh khu vực mỏ. Mục tiêu cụ thể là đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường đất, nước, không khí và đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật kết hợp quản lý nhằm phục hồi hệ sinh thái sau khai thác.

Nghiên cứu được triển khai tại mỏ sắt Trại Cau thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên – khu mỏ có tổng diện tích quy hoạch 291,04 ha với khu vực khảo sát trọng điểm rộng 101,39 ha, bao gồm 93,29 ha khai trường và 8,1 ha công trình chuyên dùng. Thời gian thu thập số liệu và quan trắc thực địa diễn ra từ tháng 06/2018 đến tháng 06/2019, trọng tâm lấy mẫu vào tháng 03/2019. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học chính xác để xử lý khối lượng đất đá bóc có hệ số từ 7,5 đến 13 m³/tấn quặng và nhân rộng mô hình 73,8 ha hoàn thổ đã thực hiện thành công tại công trường Quang Trung cho toàn bộ các khu vực mỏ lân cận.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Phát triển Bền vững trong khai thác tài nguyên không tái tạo và Lý thuyết Phục hồi Sinh thái cảnh quan mỏ (Ecological Restoration Theory). Mô hình nghiên cứu tiếp cận theo khung Áp lực - Trạng thái - Đáp ứng (PSR) nhằm làm rõ tác động dây chuyền từ hoạt động khai khoáng đến các thành phần môi trường.

Nghiên cứu làm rõ các khái niệm nền tảng:

  • Khái niệm môi trường theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014.
  • Khái niệm ô nhiễm môi trường theo khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014.
  • Khái niệm quy chuẩn kỹ thuật môi trường theo khoản 5 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014.
  • Khái niệm bãi thải mỏ và hệ số bóc đất đá dao động từ 7,5 đến 13 m³/tấn quặng.
  • Khái niệm cải tạo, phục hồi môi trường mỏ theo tinh thần Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ 138 giấy phép khai thác khoáng sản của Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên cùng chuỗi số liệu quan trắc môi trường định kỳ qua các năm. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua đợt khảo sát thực địa và phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi.

Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 70 phiếu, phân bổ đồng đều cho 35 hộ dân sinh sống cách bãi thải từ 50 đến 500 mét và 35 cán bộ, công nhân trực tiếp lao động tại mỏ. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính khách quan và phản ánh đa chiều từ hai nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp.

Chương trình quan trắc môi trường thực hiện vào ngày 05/3 và 06/3/2019 với tổng cộng 29 vị trí mẫu: 04 mẫu đất (Đ1 - Đ4), 06 mẫu nước mặt (NM1 - NM6), 04 mẫu nước ngầm (NN1 - NN4), 05 mẫu nước thải sinh hoạt và sản xuất (NTSH1, NTSX1 - NTSX4) cùng 10 mẫu không khí và tiếng ồn (KK1 - KK10). Phương pháp phân tích quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS và trắc quang tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn TCVN 6663, TCVN 5999:1995, EPA 3051B và EPA 200.8. Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích này là nhằm xác định chính xác hàm lượng kim loại nặng (Fe, Mn, Pb, As) và các chỉ số lý hóa (pH, TSS, COD, BOD5), làm căn cứ so sánh đối chiếu chuẩn xác với hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN hiện hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích mẫu thực địa chỉ ra những biến đổi rõ rệt của môi trường tự nhiên dưới áp lực khai khoáng:

  1. Môi trường đất: Phân tích tại 04 vị trí đất vườn và đất ruộng ven mỏ tầng sâu Núi Quặng cho thấy hàm lượng sắt (Fe) và mangan (Mn) tích tụ ở mức cao do quá trình phong hóa quặng Deluvi. Tuy nhiên, các kim loại nặng độc hại như asen (As), chì (Pb) và cadimi (Cd) vẫn nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép theo QCVN 03-MT:2015/BTNMT đối với đất nông nghiệp.
  2. Môi trường nước: Nước thải sản xuất tại khu vực tuyển quặng và hồ lắng Thác Lạc ghi nhận nồng độ tổng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt từ 1,5 đến 3,2 lần so với QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B). Nguồn nước mặt tại suối Ivol và suối Thác Lạc có hàm lượng Fe hòa tan cao hơn từ 25% đến 40% so với quy chuẩn nguồn nước mặt sinh hoạt QCVN 08-MT:2015/BTNMT.
  3. Môi trường không khí và tiếng ồn: Nồng độ bụi tổng số (TSP) tại 10 vị trí đo đạc ghi nhận mức vượt từ 1,2 đến 1,8 lần ngưỡng giới hạn 300 µg/m³ theo QCVN 05:2013/BTNMT, tập trung cao nhất tại cung đường vận chuyển và khu vực nghiền sàng quặng. Mức ồn đo được tại xưởng tuyển quặng vượt ngưỡng 70 dBA vào các khung giờ vận hành tối đa công suất.
  4. Tác động cộng đồng: Kết quả xử lý 70 phiếu khảo sát ghi nhận 82,8% người dân nhận định hoạt động mỏ gây ô nhiễm bụi và tiếng ồn nghiêm trọng; 74,3% hộ dân phản ánh hiện tượng sụt giảm mực nước ngầm và nứt nẻ công trình phụ; 68,6% công nhân mỏ thường xuyên mắc các bệnh lý đường hô hấp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng ô nhiễm xuất phát từ việc mỏ sắt Trại Cau đưa vào vận hành từ năm 1959 với công nghệ tuyển ướt truyền thống tiêu thụ lượng nước lớn nhưng các hồ lắng đuôi quặng chưa được nạo vét định kỳ. Địa hình đồi bát úp cao 30 đến 50 mét kết hợp lượng mưa trung bình năm lên tới 1.720,2 mm đã đẩy nhanh tốc độ xói mòn và rửa trôi đất đá từ các bãi thải có sườn dốc lên đến 35 độ.

So sánh với các mỏ sắt lộ thiên quy mô lớn như Quý Xa (Lào Cai) hay Thạch Khê (Hà Tĩnh), mỏ sắt Trại Cau có mức độ phát tán kim loại nặng trong đất thấp hơn nhưng lại chịu rủi ro sụt lún karst cao hơn do nằm trên tầng đá vôi nứt nẻ. Toàn bộ chuỗi dữ liệu thực nghiệm được trực quan hóa qua bảng so sánh các chỉ tiêu lý hóa đa môi trường và biểu đồ phân vùng ô nhiễm không gian, làm sáng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa cự ly khoảng cách 50 đến 500 mét từ bãi thải đến mức độ tổn thương của hệ sinh thái xung quanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ:

  • San gạt và phủ xanh bãi thải: Tiến hành hạ độ dốc các bãi thải từ 35 độ xuống dưới 20 độ theo mô hình giật cấp phân tầng nhằm triệt tiêu nguy cơ sạt lở. Trải lớp đất mặt màu mỡ dày 30 đến 50 cm và trồng cây keo tai tượng kết hợp cỏ vetiver trên toàn bộ diện tích 217,24 ha còn lại chưa hoàn thổ của khu mỏ, kế thừa bài học từ 73,8 ha đã phục hồi tại công trường Quang Trung.
  • Xây dựng hệ thống lắng lọc tuần hoàn: Cải tạo hệ thống hồ lắng bùn đuôi quặng thành chuỗi hồ bậc thang 3 ngăn kết hợp bổ sung chất trợ lắng sinh học PAC. Mục tiêu đưa nồng độ TSS trong nước thải sau xử lý xuống dưới 50 mg/l và hàm lượng sắt tổng số dưới 1,5 mg/l theo chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT, đồng thời nâng tỷ lệ tái sử dụng nước tuần hoàn lên trên 85% trước năm 2022.
  • Kiểm soát bụi phát tán và dập tiếng ồn: Lắp đặt hệ thống vòi phun sương cao áp tự động quanh trạm đập nghiền sàng; duy trì tần suất xe tưới nước từ 4 đến 6 lần/ngày trên các tuyến đường vận chuyển nội bộ trong mùa khô, hướng tới mục tiêu cắt giảm ít nhất 50% lượng bụi lắng tại khu dân cư tổ 14 và tổ 15 thị trấn Trại Cau.
  • Tăng cường chế tài và giám sát quản lý: Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên cùng UBND huyện Đồng Hỷ cần thiết lập mạng lưới quan trắc tự động và kiểm tra định kỳ 4 lần/năm; giám sát chặt chẽ nghĩa vụ ký quỹ phục hồi môi trường của Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên theo đúng Nghị định 19/2015/NĐ-CP và Thông tư 38/2015/TT-BTNMT.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Chuyên viên tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đồng Hỷ có thể sử dụng dữ liệu thống kê từ 138 mỏ khoáng sản và phương pháp phân tích 70 phiếu khảo sát để làm căn cứ thẩm định phương án đóng cửa mỏ, hoàn thổ và tính toán tiền ký quỹ cải tạo môi trường chính xác.
  • Doanh nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản: Ban lãnh đạo Mỏ sắt Trại Cau cùng các chủ đầu tư mỏ kim loại trên địa bàn ứng dụng mô hình hồ lắng bậc thang 3 ngăn và quy trình phủ xanh 73,8 ha đất thải để tối ưu hóa chi phí vận hành và tuân thủ các quy chuẩn xả thải bắt buộc.
  • Nhà khoa học, giảng viên và học viên chuyên ngành Môi trường: Giảng viên và học viên cao học ngành Khoa học Môi trường có thể khai thác bộ cơ sở dữ liệu 29 vị trí quan trắc thực nghiệm cùng quy trình đánh giá liên ngành để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái phục hồi.
  • Tổ chức tư vấn môi trường và chính quyền cơ sở: Các đơn vị tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và UBND cấp xã/thị trấn sử dụng tỷ lệ 82,8% phản ánh tác động cộng đồng làm cơ sở đối thoại dân sinh, xây dựng phương án đền bù và giải phóng mặt bằng minh bạch.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao hoạt động khai thác tại mỏ sắt Trại Cau lại dẫn đến hiện tượng tụt mạch nước ngầm và sụt lún đất?

Nguyên nhân do địa tầng mỏ sắt Trại Cau nằm trên cấu trúc đá vôi nứt nẻ chứa nhiều hang karst ngầm. Hoạt động bơm hút nước cưỡng bức để hạ mực nước ngầm phục vụ khai thác moong sâu kết hợp hệ số bóc đất đá từ 7,5 đến 13 m³/tấn đã tạo ra các phễu hạ thấp mực nước ngầm, khiến 74,3% hộ dân xung quanh bị khô cạn giếng đào và nứt nẻ công trình nhà ở.

Những chỉ tiêu ô nhiễm nào tại khu vực mỏ sắt Trại Cau vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cao nhất?

Hai chỉ tiêu ghi nhận mức vượt chuẩn cao nhất là tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trong nước thải tuyển khoáng tại hồ lắng Thác Lạc vượt từ 1,5 đến 3,2 lần so với QCVN 40:2011/BTNMT và nồng độ bụi tổng số (TSP) dọc tuyến đường vận tải chuyên dùng vượt từ 1,2 đến 1,8 lần giới hạn 300 µg/m³ theo QCVN 05:2013/BTNMT.

Hiệu quả thực tế của mô hình hoàn thổ trồng cây keo tại mỏ sắt Trại Cau được ghi nhận như thế nào?

Mô hình hoàn thổ diện tích 73,8 ha tại công trường Quang Trung từ năm 2013 bằng cây keo lai đã giúp giảm trên 60% cường độ rửa trôi xói mòn đất, phục hồi độ che phủ thực vật và tái tạo tầng hữu cơ sau 5 năm sinh trưởng, được trích nguồn kinh phí từ tiền ký quỹ phục hồi môi trường theo Thông tư 38/2015/TT-BTNMT.

Hàm lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp quanh khu mỏ sắt có gây nguy cơ ngộ độc cây trồng không?

Kết quả phân tích 04 mẫu đất (Đ1 - Đ4) cho thấy hàm lượng các kim loại nguy hại như chì (Pb), asen (As) và cadimi (Cd) vẫn nằm trong giới hạn an toàn của QCVN 03-MT:2015/BTNMT. Tuy nhiên, nồng độ sắt (Fe) và mangan (Mn) cao gấp 1,3 đến 2,1 lần so với đất đối chứng do bụi lắng, cần có biện pháp thau chua rửa sắt định kỳ trước khi canh tác.

Quy trình kỹ thuật phục hồi môi trường chuẩn cho một bãi thải quặng sắt lộ thiên gồm những giai đoạn nào?

Quy trình kỹ thuật chuẩn gồm 4 giai đoạn nối tiếp: san gạt giảm góc dốc bãi thải xuống dưới 20 độ, nạo vét và xử lý bùn quặng đuôi tại các hồ chứa, trải lớp đất mặt giàu dinh dưỡng dày 30 đến 50 cm, và tiến hành trồng thảm thực vật hỗn giao keo - cỏ vetiver kết hợp quan trắc môi trường định kỳ 2 lần/năm trong 3 năm liên tiếp.

Kết luận

  • Đã cung cấp bức tranh toàn diện và định lượng về thực trạng suy thoái môi trường đất, nước, không khí trên diện tích 291,04 ha của mỏ sắt Trại Cau sau 60 năm khai thác lộ thiên.
  • Xác định rõ mức độ ô nhiễm với chỉ số TSS nước thải vượt từ 1,5 đến 3,2 lần và nồng độ bụi TSP vượt từ 1,2 đến 1,8 lần quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
  • Đánh giá khách quan tác động sức khỏe cộng đồng qua bộ 70 phiếu khảo sát, chỉ ra 82,8% người dân bị ảnh hưởng bởi bụi và 74,3% phản ánh tình trạng cạn kiệt nước ngầm.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công nghệ xử lý nước tuần hoàn 3 ngăn đạt hiệu suất thu hồi trên 85% và kỹ thuật giảm độ dốc bãi thải xuống dưới 20 độ.
  • Hoàn thiện lộ trình cải tạo sinh thái cho 217,24 ha đất mỏ còn lại dựa trên kinh nghiệm thành công của 73,8 ha đã hoàn thổ tại công trường Quang Trung.

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị thực tiễn cao cho công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tại 18 mỏ sắt trên địa bàn huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2020 - 2025. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp khai khoáng hãy ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu và quy trình kỹ thuật này vào thực tiễn để hướng tới mục tiêu phát triển ngành mỏ bền vững và thân thiện với môi trường.