Chương 1: Tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan đến thị trường xuất khẩu Chương 3: Phân tích thực trạng kinh doanh của Thiên Long Group Chương 4: Thị trường Thiên Long Group 3 SVTH: Lê Tấn Nghĩa GVHD: TS. Phạm Minh Chương 5: Giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu cho Thiên Long Group 4 SVTH: Lê Tấn Nghĩa GVHD: TS. Phạm Minh CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 2.1 Thị trường 2.1 Khái niệm Khái niệm về thị trường có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Đầu tiên sẽ là cách hiểu thị trường theo hướng truyền thống thì đó là nơi mà các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa.
Thị trường theo khái niệm xa xưa thì người ta hiểu nó rằng là loại phải có dạng hữu hình và có một địa điểm cụ thể để người bán và người mua thực hiện được hành vi trao đổi hoặc mua bán hàng hóa bất kì nhằm thỏa mãn nhu cầu đôi bên. Theo nền kinh tế phát triển thì thị trường cũng phát triển lên một hướng mới và sẽ có một cách nhìn một khái niệm mới về thị trường như là thị trường không còn trong khuôn khổ phải là hữu hình nữa mà còn có thể ở dạng vô hình ví dụ như các thị trường dịch vụ thì sẽ không có cụ thể được hàng hóa hay sản phẩm để mua bán, chúng phức tạp hơn và đan xen với nhau. Khái niệm thị trường ngày nay cũng có thêm nhiều cách hiểu và nhìn nhận khác nhau như là một nhóm người có nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa tập hợp lại với nhau dẫn đến khả năng trao đổi thông qua nhiều quá trình dàn xếp. Theo Theodore Levitt (1960), đã đưa ra khái niệm về thị trường trong bài viết nổi tiếng của ông "Marketing Myopia".
Theo Levitt, thị trường không chỉ là nơi để bán sản phẩm, mà còn là nơi để giải quyết nhu cầu của khách hàng. Ông nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp nên tập trung vào nhu cầu của khách hàng thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm. Còn Michael Porter (1980), một học giả nổi tiếng về chiến lược kinh doanh, đưa ra khái niệm về thị trường trong mô hình Five Forces Analysis. Theo Porter, thị trường được xác định bởi sức mạnh của năm lực lượng: sức mạnh cạnh tranh giữa các công ty hiện có, nguy cơ từ sản phẩm thay thế, sức mạnh đàm phán của nhà cung cấp, sức mạnh đàm phán của khách hàng và nguy cơ từ đối thủ mới.
5 SVTH: Lê Tấn Nghĩa GVHD: TS. Phạm Minh Đối với Peter Drucker (1954) thì ông đã nhấn mạnh về khái niệm thị trường trong quản lý hiệu suất. Ông cho rằng thị trường là nơi mà giá trị được tạo ra thông qua việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng sẵn lòng trả tiền. Theo quan điểm của Mác Lê-nin (1848) thì thị trường là tổng thể của nhu cầu hoặc tập hợp nhu cầu về một hàng hoá nào đó, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá bằng tiền tệ.
Theo từ điển kinh tế Việt Nam, thị trường là nơi lưu thông tiền tệ là toàn bộ các giao dịch mua bán hàng hoá. Theo khái niệm hiện đại của P.A SAMUELSON (2002) thì thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá. Theo định nghĩa của hiệp hội quản trị Hoa Kỳ: Thị trường là tổng hợp các lực lượng và các điều kiện trong đó người mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hoá dịch vụ từ người bán sang người mua. Tóm lại, toàn bộ định nghĩa về thị trường đều nói lên mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau giữa các yếu tố hàng hóa giá cả mua và bán cùng các yếu tố khác có quan hệ gián tiếp hoặc trực tiếp với quá trình và hành vi mua bán hàng hóa của người mua và người bán.
Thị trường như một môi trường kinh tế, đóng vai trò như một cơ chế phối hợp trong đó người sản xuất, người bán và người tiêu dùng tương tác trong môi trường cạnh tranh và là cơ chế điều phối. Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ. Thực chất, thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó.2 Phân loại thị trường 6 SVTH: Lê Tấn Nghĩa GVHD: TS. Phạm Minh Theo kinh tế học, thị trường được chia thành 3 loại chính đó là thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường tiền tệ và thị trường lao động.
Bên cạnh đó, thị trường giao dịch giữa người mua và người bán còn được thể hiện theo một số hình thái như sau. • Thị trường ngoại hối hay còn gọi là thị trường tiền tệ. Được xem là hình thái thị trường lớn nhất thế giới. • Thị trường tiềm năng (the potentinal market) là tập hợp những người tiêu dùng thừa nhận có đủ mức độ quan tâm đến một mặt hàng nhất định của thị trường.
• Thị trường hiện có (the available market) là tập hợp những khách hàng có quan tâm, có thu nhập và có khả năng tiếp cận một sản phẩm nhất định của thị trường. • Thị trường hiện có và đủ điều kiện (the qualified available market ) là tập hợp những khách hàng có quan tâm, có thu nhập, có khả năng tiếp cận và đủ điều kiện đối với một sản phẩm nhất định của thị trường. Đến đây, doanh nghiệp phải lựa chọn xem nên theo đuổi toàn bộ thị trường hiện có và đủ điều kiện, hay chỉ tập trung vào một phân đoạn nhất định nào đó của thị trường. • Thị trường đã thâm nhập (the penetrated market) là tập hợp những khách hàng đã mua sản phẩm đó.
Ngoài những thị trường đã nêu trên có thể hiểu về thị trường theo những góc độ khách quan khác. Mỗi góc độ thì thị trường sẽ phản ánh lên một mặt của góc nhìn đó. Dựa vào lượng người mua bán tham gia thị trường ta có: • Thị trường độc quyền cạnh tranh: loại thị trường vừa có trạng thái cạnh tranh vừa có trạng thái độc quyền. Trong thị trường này bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có thể là người cạnh tranh hoặc là cũng có thể là độc quyền với cùng loại sản phẩm nhưng về mặt số lượng, chất lượng có chút khác biệt.
7 SVTH: Lê Tấn Nghĩa GVHD: TS. Phạm Minh • Thị trường độc quyền: là thị trường mà ở đó chỉ có một doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm đó, tạo nên sản phẩm hàng hóa đó là duy nhất. Từ ưu thế đó các doanh nghiệp độc quyền nắm bắt được cung cầu và kiểm soát được giá bán. bên cạnh thị trường độc quyền bán còn có thị trường độc quyền mua.
Độc quyền mua là loại thị trường mà trong đó chỉ có một khách hàng có nhu cầu về hàng hóa sản phẩm và dịch vụ đó, tương tự như thị trường độc quyền bán, thị trường độc quyền mua cũng có khả năng kiểm soát mối quan hệ kinh tế. • Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: loại thị trường mà trong đó gồm nhiều người bán và người bán tham gia. những người mua và người bán tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau chứ không riêng bên nào có đủ ưu thế để sản xuất cung ứng sản phẩm làm chi phối các mối quan hệ kinh tế cũng như là cung cầu trên thị trường. Người mua cũng không thể có khả năng để mua được số lượng hàng đủ lớn để gây biến động về giá cả.3 Vai trò của thị trường • Thứ nhất, thị trường cung cấp một môi trường để các chủ thể kinh tế có thể thực hiện cũng như trao đổi lợi ích của mình.
Còn là cầu nối giữa tiêu dùng và sản xuất, tạo ra môi trường để các chủ thể kinh tế thực hiện những hoạt động lợi ích của mình. Thi trường cũng đóng vai trò là định hướng, thông tin cho mọi nhu cầu kinh doanh, sản xuất. Từ đó giải quyết mối quan hệ hài hòa về các lợi ích kinh tế cho những chủ thể tham gia. • Thứ hai, thị trường đóng vai trò thúc đẩy và tác động các mối quan hệ kinh tế luôn phát triển và đòi hỏi các thành phần trong xã hội luôn sáng tạo, nỗ lực để bắt kịp sự phát triển của thị trường.
Nếu như sự sáng tạo của chủ thể được thị trường công nhận thì chủ thể sẽ được hưởng những lợi ích kinh tế tương xứng. như vậy, những lợi ích sẽ trở thành động lực để thúc đẩy kích thích sáng tạo của mọi thành phần tham gia kinh tế. • Thứ ba, đảm bảo sự thỏa mãn của các chủ thể kinh tế về lợi ích khi tiến hành các hoạt động trao đổi mua bán trong kinh tế, những chủ thể khi tham 8 SVTH: Lê Tấn Nghĩa GVHD: TS. Phạm Minh gia vào thị trường đều phải chấp nhận sự điều chỉnh của quy luật kinh tế.
Những quy luật này kiểm soát thị trường thông qua giá cả. Những chủ thể kinh tế khi không được hưởng đúng lợi ích kinh tế của mình thì khi đó thị trường sẽ đóng vai trò điều chỉnh giá sao cho thỏa mãn và phù hợp với lợi ích của chủ thể để đảm bảo rằng những hoạt động kinh tế được tiếp tục diễn ra. cuối cùng, trong trường hợp thị trường không điều chỉnh được thì nhà nước sẽ can thiệp. • Thứ tư, thị trường đóng vai trò như một chiếc gương để phản chiếu được tình hình kinh doanh sản xuất doanh nghiệp.
Khi nhìn vào thị trường doanh nghiệp sẽ thấy được tốc độ, quy mô cũng như trình độ phát triển. Vì lí do đó nên doanh nghiệp cần phải bám sát theo dõi thường xuyên thị trường để có thể thấy được tình trạng kinh doanh sản xuất của bản thân để từ đó có những chiến lược phát triển kinh doanh hợp lí. • Thứ năm, thị trường đánh giá và kiểm nghiệm tính chất đúng đắn những chủ trương cũng như các biện pháp, chính sách kinh tế của nhà nước, của những nhà kinh tế học và quản lý kinh doanh. Thông qua đó sẽ có thể đánh giá và nâng cao trình độ quản lý kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp.
Tóm lại, thị trường đóng vai trò vô cùng quan trọng, đó như là cầu nối giữa quan hệ tiêu dùng và sản xuất.