CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ INTERNET 1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Internet 1. Khái niệm của dịch vụ Internet Ngày nay, internet được định nghĩa là một hệ thống thông tin được kết nối với nhau bởi giao thức TCP/IP và sử dụng một hệ thống địa chỉ thống nhất trên phạm vi toàn cầu để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho người sử dụng thông qua các hệ thống kênh viễn thông. Sự ra đời của chương trình duyệt Web (Internet Exploer và Nestcappe) hết sức tiện lợi cho người sử dụng cùng với ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML_ Hyper Text Markup language) và một loại các công nghệ Web mutimedia, đã tạo cho Internet trở thành một phương tiện hết sức tiện lợi đối với mỗi tổ chức cá nhân.
Kết quả của hàng loạt các sự kiện liên quan đã làm cho Internet bùng nổ và những năm cuối thuế kỷ XX. Vai trò của Internet ngày càng được khẳn định cùng vố sự ảnh hưởng sâu rộng của nó tới đời sống kinh tế chính trị, xã hội của toàn thế giới. Dịch vụ Internet là dịch vụ do mạng Internet cung cấp. Các chủ thể tham gia: IEP (Internet Expanded Provider) - Nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet.
ISP (Internet Service Provider) - Nhà cung cấp dịch vụ Internet. ICP (Internet Content Provider) - Nhà cung cấp nội dung thông tin trên Internet. Khách hàng - Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ internet. Tổ chức mạng Internet gồm 4 tầng là tầng quốc tế, tầng mạng trục, tầng truy nhập và tầng dịch vụ.
Tầng quốc tế đóng vai trò kết nối các mạng Internet giữa các quốc gia với nhau thông qua các cửa khẩu quốc tế (Internet gate way). Tầng mạng trục (Backbone) làm chức năng kết nối các điểm truy cập (POP) trong tầng truy cập thông qua các nút chuyển tải có năng lực xử lý lớn. Tầng truy cập (Access layer) làm chức năng kết nối các terminal (Thiết bị đầu cuối/người sử dụng) với Internet nó bao gồm các điểm truy cập. Tầng dịch vụ (Service layer) được tạo bởi các máy tính chủ cung cấp dịch 4 vụ.
Phân loại: Các dịch vụ được chia làm 3 loại chính là dịch vụ truy nhập Internet và dịch vụ ứng dụng internet. - Dịch vụ truy cập Internet là dịch vụ cung cấp cho mọi người sử dụng khả năng truy cập đến Internet. Đặc trưng của dịch vụ này là cung cấp đường truy nhập Internet trực tiếp và gián tiếp cho khách hàng. - Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho đơn vị.
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet Quốc tế. - Dịch vụ ứng dụng Internet là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp cho người sử dụng các ứng dụng hoặc dịch vụ bao gồm: Bưu chính, Viễn Thông, Thông tin văn hóa, Thương mại, Ngân hàng, Tài chính, Y tế , Giáo dục, Đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và các ứng dụng khác trên Internet. Dịch vụ ứng dụng Internet được chia thành 2 nhóm là dịch vụ cơ bảng và dịch vụ giá trị gia tăng: + Dịch vụ cơ bản là dịch vụ mà khách hàng (người sử dụng) sẽ được sử dụng một cách đương nhiên khi đăng ký sử dụng (chấp nhận sử dụng), như truy cập từ xa (truy cập gián tiếp qua mạng điện thoại công cộng), truyền nhập dữ liệu, truy cập các cơ sở dữ liệu theo các phương thức khác nhau (Website.) + Dịch vụ giá trị gia tăng là những dịch vụ cộng thêm hoặc được phát triển trên nền các dịch vụ cơ bản, ngoài các dịch vụ cơ bản. Dịch vụ giá trị gia tăng được chia thành 2 nhóm chính là: Nhóm dịch vụ không tương tác là các dịch vụ đang được thực hiện chỉ có một phía khách hàng là người có khả năng chủ động giao tiếp với hệ thống cung cấp dịch vụ của nhà cung cấp.
Các dịch vụ không tương tác chỉ thỏa mãn nhu cầu cho khách hàng bằng những nội dung mà nhà cung cấp đã định sẵn bằng những phương thức chào hàng mà người được chào hàng là các khách hàng, ví dụ: dịch vụ video on Demand (xem dịch vụ theo yêu cầu), dịch vị cung cấp thông tin, dịch Web. Nhóm dịch vụ tương tác là các dịch vụ cho phép các chủ thể có khả năng chủ động cùng một lúc gửi và nhận thông tin thông qua hệ thống cung cấp dịch vụ của nhà cung cấp, ví dụ như: Voice over IP (điện thoại dựa trên giao thức IP), Internet telephone (điện thoại qua Internet), Video Conferencing (hội thảo qua mạng 5 Internet), Distance learning Online (đào tạo từ xa qua mạng), chatting (trò chuyện qua mạng), tư vấn qua mạng. Vai trò của Internet: Cho tới nay, chúng ta có thể thấy Internet đã hiện diện và là công cụ hổ trợ đắc lực trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống. Ở các nước phát triển, Internet đã trở thành một trong những phương tiện cung cấp thông tin lớn nhất, vượt qua các phương tiện thông tin truyền thống như TiVi, đài phát thanh, báo chí, v.
Trong mô hình của thế giới mới, Internet sẽ trở thành một trong số những phương tiện trao đổi thông tin chính cho tất cả các ngành, lĩnh vực của các quốc gia cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Các hệ thống Thương mại điện tử (E- Commerce), Ngân hàng điện tử (E-Bank), Chính phủ điện tử (E-Government), v. hiện đang được nghiên cứu áp dụng và triển khai tại các quốc gia và trong một tương lai không xa sẽ trở thành phổ biến trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay, 95% nền kinh tế tài chính nằm trong một thế giới ảo, nơi mà những trọng tâm áp lực và sự đầu cơ quốc tế có một sức nặng cực kỳ lớn.
Việc mua bán hàng hoá, dịch vụ đã được chuyển hoá lên mạng (Điện tử hoá). Các hình thức thanh toán qua mạng tạo điều kiện cho việc hình thành thế giới ảo. Thế giới ảo ở đây được tạo ra để các hoạt động kinh tế xã hội có thể diễn ra mà không cần tiến hành tại hiện trường mà hoàn toàn thông qua mạng số liệu hoá hữu quan. Ví dụ, thông qua mạng Internet cùng đối tác thiết lập công ty (Gọi là công ty ảo), xử lý công cụ (văn phòng ảo), mua bán sản phẩm dịch vụ (thị trường ảo),.
Mạng chữ số hoá (Internet là trọng tâm) làm cho việc sản xuất, cung cấp, tiêu thụ có quan hệ trực tiếp với nhau và làm mất đi chức năng môi giới trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Những người môi giới trung gian trong hoạt động kinh tế, bao gồm đại lý buôn bán, người kinh doanh buôn bán, những người bán buôn, bán lẻ và nhân viên quản lý của họ cần phải chuyển ngành hoặc tiến hành chức năng trung gian theo phương thức mới (Theo phương nằm ngang, dưới hình thức mạng lưới và sử dụng kỹ thuật điều khiển, liên lạc). Người sản xuất có thể kịp thời hiểu được nhu cầu của khách hàng, sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra phù hợp với tiêu thụ và nhu cầu, hơn nữa người tiêu dùng có thể tham gia quá trình sản xuất thực tế, lựa chọn, thiết kế và sản xuất ra những sản phẩm thích hợp với khẩu vị và nhu 6 cầu của mình. Đặc điểm của dịch vụ Internet Dịch vụ internet là một trong những sản phẩm của dịch vụ viễn thông nên có có đầy đủ các đặc tính của sản phẩm dịch vụ viễn thông như sau: Tính vô hình của sản phẩm: Sản phẩm dịch vụ viễn thông là hiệu quả của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận.
Do vậy nó không phải là một vật phẩm cụ thể. Khách hàng không nhìn thấy, không nghe thấy, không sờ thấy, không ngửi thấy! Có nghĩa là sản phẩm dịch vụ viễn thông không hấp dẫn trực tiếp đến các giác quan của khách hàng. Đây chính là một nhược điểm lớn của sản phẩm dịch vụ viễn thông, vì khách hàng khó nhận thức được về chất lượng, công dụng, lợi ích và khách hàng khó bị hấp dẫn. Do vậy bán các dịch vụ dịch vụ viễn thông khó hơn, đòi hỏi nghệ thuật bán hàng cao hơn.
Quá trình tiêu dùng và cung cấp dịch vụ xảy ra đồng thời, với sự tham gia của cả khách hàng: Khi khách hàng đến quầy giao dịch thì quá trình mua bán và tiêu dùng bắt đầu xảy ra đồng thời. Do vậy người giao dịch viên đóng hai vai: Khai thác viên và người bán hàng. Muốn vậy họ phải được đào tạo cả hai lĩnh vực là nghiệp vụ khai thác và tâm lý giao tiếp, kỹ thuật bán hàng. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào tâm trạng của của giao dịch viên.
Do vậy, khách hàng thích gặp người bán hàng quen, tin cậy để mua mới yên tâm về chất lượng. Mối quan hệ giao tiếp giữa khách hàng và giao dịch viên có ảnh hưởng lớn đến tâm lý, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Dịch vụ phải trải qua nhiều công đoạn ở các đơn vị khác nhau, địa phương khác nhau: Đó là các công đoạn đi, đến, quá giang. Như vậy, một nơi làm mất khách hàng thì các nơi khác cũng mất theo.
Cho nên mọi đơn vị trong hệ thống đều phải nỗ lực làm cho khách hàng hài lòng, bất kể đối với người nhận hay người gửi, là đối tượng phục vụ hay kinh doanh. Phải thay 7 mặt cho các đơn vị khác trong hệ thống để giúp đỡ hay nhận lỗi với khách hàng. Phải tuân thủ chính xác các thể lệ quy trình khai thác thống nhất trên cả nước. Đối với mạng lưới viễn thông quốc tế, để có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng quốc tế, thì mạng lưới cũng phải đồng bộ, vì nếu chỉ có một vài quốc gia có mạng lưới hiện đại thì cũng không đáp ứng nhu cầu của khách hàng quốc tế trong trào lưu hội nhập.
Do vậy đã xuất hiện các liên doanh liên kết giữa các nhà khai thác viễn thông để tạo ra một mạng lưới thống nhất toàn cầu. Các dịch vụ viễn thông là không thể dự trữ được: Dịch vụ thì không thể sản xuất hàng loạt trước để dự trữ khi có nhu cầu cao thì mang ra bán, hoặc chuyển từ nơi có nhu cầu thấp sang nơi có nhu cầu cao để bán. Trong khi đó thì nhu cầu của khách hàng lại không đồng đều giữa các giờ trong ngày, giữa các ngày trong tuần và giữa các địa phương khác nhau. Mạng lưới, dung lượng các thiết bị truyền dẫn, chuyển mạch nếu để dư thừa thì vẫn phải tính khấu hao theo thời gian.
Giá trị mỗi lần giao dịch nhỏ: Mỗi lần bán một dịch vụ viễn thông chẳng thu được là bao. Do vậy người bán hàng phải kiên trì, năng nhặt chặt bị.