CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUA THẺ TẠI NHTM 1.1: Tổng quan về NHTM Khái niệm. Trên cơ sở xem xét những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Chức năng và hoạt động của NHTM - Ngân hàng có 3 chức năng chính là : + Là một trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư dưới hình thức nhận tiền gửi và cung cấp tín dụng. + Là trung gian thanh toán giữa những khách hàng có tiền gửi ở cùng một ngân hàng, sau đó mở rộng ra khi thanh toán liên ngân hàng.
+ Tạo phương tiện thanh toán - Ngân hàng gồm có các hoạt động: + Nhận tiền gửi + Cấp tín dụng + Các dịch vụ khác (dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ internet banking, home banking, và phone banking, dịch vụ tư vấn thông lệ quốc tế, hướng dẫn kỹ thuật thanh toán quốc tế .2: Những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh toán qua thẻ tại ngân hàng thương mại.1: Khái niệm và phân loại thẻ ngân hàng - Khái niệm thẻ ngân hàng Từ khởi nguồn là vỏ sò trong suốt chiều dài lịch sử phát triển nhân loại đã chứng kiến nhiều hình thái của tiền tệ như thuốc lá, các kim loại quý hiếm, tiền giấy. dùng để lưu hành, trao đổi hàng hóa. Những hình thái của tiền tệ phát triển SV: Đặng Minh Quân 4 MSV: 12145247 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thành Trung cùng với sự tiến bộ của con người bao nhiêu đã tạo ra sự đa dạng về hình thức và chủng loại bấy nhiêu.
Thẻ ngân hàng được coi là hình thức thanh toán hiện đại nhất hiện nay, nó gắn liền với các thành tựu về khoa học kỹ thuật vào ngành ngân hàng. Thẻ ngân hàng có lịch sử hình thành và phát triển trong vài thập kỷ gần đây trong đó quan hệ giữa khách hàng và người bán là trung tâm của công nghiệp thẻ ngân hàng. Lịch sử thẻ ngân hàng bắt đầu khi một số nhà kinh doanh muốn mở rộng tín dụng đến khách hàng của họ bằng cách cho phép khách hàng được phép nghi nợ vào tài khoản. Những nhà kinh doanh nhỏ muốn áp dụng dịch vụ này và nhận biết họ không đủ năng lực để cung cấp tín dụng cho khách hàng của họ, đây chính là một cơ hội cho các tổ chức tài chính bước vào.
Cuối những năm 1800, các nhà buôn và người tiêu dùng Mỹ đã dùng khái niệm uy tín, tín nhiệm khi trao đổi hàng hóa, như sử dụng một số loại xu hay tấm thẻ thay cho tiền mặt. Đến năm 1946, thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện và mang tên "Charg-It", do John Biggins ở Brooklyn (New York) nghĩ ra. Khi khách hàng mua sắm, hóa đơn sẽ được chuyển đến ngân hàng của Biggins. Ngân hàng trả tiền cho nhà kinh doanh và sau đó khách hàng trả tiền cho ngân hàng.
Điểm trừ là loại thẻ này chỉ sử dụng trong phạm vi địa phương và dành riêng cho khách của ngân hàng. Năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời. Một ngày, người đàn ông tên Frank McNamara đi ăn nhà hàng ở New York. Khi thanh toán, Frank nhận ra mình không mang tiền theo và phải gọi vợ đến trả.
Sau bữa tối đó, ông nghĩ ra một cách thanh toàn không dùng tiền mặt. Cùng với đối tác, ông lập ra Công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng. Chỉ trong năm đầu tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ này, và người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn. Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở cả các điểm du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống.
9 năm sau đó, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ BankAmericard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với SV: Đặng Minh Quân 5 MSV: 12145247 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thành Trung các ngân hàng thẻ trên thế giới. Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng độc lập VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975. Năm 1966, tiền thân của MasterCard ra đời.
Khi đó, Hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA) được thành lập bởi một nhóm ngân hàng phát hành thẻ. Họ cùng thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia. Tổ chức này có nhiệm vụ phát triển một hệ thống mạng lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Ngày nay, VISA và MasterCard là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới.
Ngoài ra, còn nhiều nhà tổ chức thẻ khác là American Express, Diners Club. cũng tham gia thị trường nhưng ở quy mô nhỏ hơn. Ngày nay, toàn thế giới đã có khoảng 14,4 tỷ chiếc thẻ ngân hàng các loại đang được lưu hành. Theo báo cáo của MasterCard, nhờ giao dịch thẻ, các quốc gia tiết kiệm được 1% trên GDP so với những chi phí bỏ ra khi giao dịch hoàn toàn bằng tiền mặt.
Thống kê của một tổ chức cho thấy người tiêu dùng thế giới đang mua sắm nhiều nhất bằng thẻ VISA (60,4% giao dịch mua hàng). MasterCard là loại thẻ được dùng nhiều tiếp theo, chiếm 26,8%. Ngoài ra, vẫn có lượng nhỏ khách hàng dùng thẻ của các hãng như Diners Club, American Express, UniconPay. (Nguồn : http://kinhdoanh.net/tin-tuc/ebank/lich-su-cua-nhung- chiec-the-ngan-hang-3084014.html) Một cách khái quát nhất, thẻ ngân hàng có thể được định nghĩa là một phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận.
Người chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để chuyển khoản, rút tiền mặt tại các ngân hàng hoặc tại các ngân hàng tự động (ATM) hoặc để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ mà họ sử dụng. - Đặc điểm và Phân loại thẻ ngân hàng. Đặc điểm cấu tạo của thẻ: - Mặt trước của thẻ gồm: SV: Đặng Minh Quân 6 MSV: 12145247 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thành Trung Nhãn hiệu thương mại của thẻ.
Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ. Số thẻ, tên chủ thẻ được in nổi. - Mặt sau thẻ gồm: Dải băng từ chứa các thông tin thẻ và chủ của thẻ, cũng có thể có chip điện tử để ghi các thông tin phụ thêm khác. Ô chữ ký dành cho chủ thẻ.
Phân loại: Có nhiều cách phân chia các loại thẻ ngân hàng nhưng chủ yếu vẫn là theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ, theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ hoặc theo đặc tính kỹ thuật của thẻ. Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ Thẻ nội địa: là thẻ được tổ chức phát hành thẻ ở trong nước phát hành để giao dịch trong phạm vi lãnh thổ nước đó, đồng tiền sử dụng trong các giao dịch thẻ nội địa là đồng nội tệ. Thẻ quốc tế: là thẻ được tổ chức phát hành thẻ trong nước phát hành để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nước đó, hoặc là được tổ chức nước ngoài phát hành và giao dịch trong phạm vi lãnh thổ nước đó. Theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ: Thẻ tín dụng (Credit card): là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, cho phép người sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau.
Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tới lúc chủ thẻ trả tiền cho ngân hàng phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau. Thẻ ghi nợ (Debit Card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ và thanh toán được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn. Thẻ ATM: là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép chủ thẻ kết nối trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động. Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy rút tiền tự động ATM.
SV: Đặng Minh Quân 7 MSV: 12145247 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Nguyễn Thành Trung Thẻ thanh toán (Charge Card): Đây là loại thẻ chuyên dùng để phục vụ các khách hàng có thu nhập cao, có khả năng tài chính ổn định và thường xuyên chi tiêu lớn. Nếu như thẻ tín dụng thông thường cho phép khách hàng có thể trả một phần số dư nợ cuố kỳ vào ngày đến hạn với điều kiện đảm bảo mức thanh toán tối thiểu thì đối với thẻ thanh toán, chủ thẻ sẽ phải thanh toán toàn số tiền phát sinh cho ngân hàng khi vào ngày đến hạn. Tuy nhiên, để đổi lại, khi sử dụng thẻ thanh toán, khách hàng được hưởng một hạn mức tín dụng đặc biệt cao và không bị chi phối bởi hạn mức tín dụng.
Theo đặc tính kỹ thuật Thẻ băng từ: được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với 1 dải băng từ chứa 2 rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ điện tử có bộ vi xử lý Chip (thẻ thông minh): là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ “Chip” điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “Chíp” điện tử khác nhau.2: Hoạt động thanh toán qua thẻ tại NHTM Các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán thẻ Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng có sự tham gia chặt chẽ của 4 chủ thể là: ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT). Từng chủ thể đóng vai trò quan trọng khác nhau trong việc phát huy tối đa vai trò làm phương tiện thanh toán hiện đại của thẻ ngân hàng.
- Ngân hàng phát hành Ngân hàng phát hành là ngân hàng thực hiện việc: Thẩm định tính năng pháp lý và khả năng tài chính khách hàng. Phát hành thẻ cho các khách hàng có kết quả thẩm định đạt yêu cầu. Tạo sao kê cho chủ thẻ và quyết toán với chủ thẻ. Ngoài ra, ngân hàng phát hành còn có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba, là một ngân hàng hoặc một tổ chức tài chính tín dụng khác trong việc phát SV: Đặng Minh Quân 8 MSV: 12145247 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS.
Nguyễn Thành Trung hành thẻ tín dụng.