Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Vai trò và đặc điểm SXNN 1. Định nghĩa về nông nghiệp Nông nghiệp theo nghĩa hẹp được hiểu là các hoạt động liên quan đến việc trồng cây và đầu tư canh tác trên đất nhằm mục đích sản xuất ra sản lượng lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Như vậy đối tượng chính của của nông nghiệp theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm loại cây trồng được thuần hóa canh tác trên đất.
Tuy nhiên, ở nước ta khái niệm nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm: nông, lâm, ngư nghiệp, các hoạt động chăn nuôi bao gồm cả nuôi trồng thủy sản [24, tr. Vai trò của nông nghiệp (1) Nông nghiệp có vai trò cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội [24, tr. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông.
Tuy nhiên ngay cả các nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng Trang 4 Luan van cả về số lượng, chất lượng và chủng loại.
Điều đó do tác động của các nhân tố: sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người. (2) Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị [24, tr. Điều đó được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây: - Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị. - Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến.
Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa, mở rộng thị trường. - Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản v. (3) Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp [24, tr.
Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và TLSX được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. (4) Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn [24, tr. Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm thủy sản.
Xu hướng chung ở các nước trong quá trình CNH, ở giai đoạn đầu giá trị xuất Trang 5 Luan van khẩu nông lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế. (5) Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường [24, tr. Nông nghiệp sử dụng nhiều hóa chất như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh v. làm ô nhiễm đất và nguồn nước.
Trong quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng v. Vì thế, trong quá trình phát triển SXNN, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường. Tóm lại, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển bao gồm hai loại đóng góp: thứ nhất là đóng góp về thị trường - cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho các khu vực khác, thứ hai là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịch các nguồn lực (lao động, vốn v.) từ nông nghiệp sang khu vực khác. Đặc điểm nông nghiệp Cho đến nay, nông nghiệp vẫn là ngành duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm cho con người, có thể nêu lên những đặc điểm của SXNN: (1).
Đối tượng của SXNN bao gồm nhiều loại cây trồng và gia súc có yêu cầu khác nhau về môi trường, điều kiện ngoại cảnh để sinh ra và lớn lên [24, tr. Vì vậy, muốn đạt kết quả cao trong SXNN, cần có những hiểu biết tường tận để hoạt động sản xuất phù hợp với các quy luật sinh học của mỗi đối tượng sản xuất. Trong thực tế, người SXNN không hoàn toàn làm chủ được quá trình sản xuất, mà phải thường xuyên đối phó với những diễn biến bất thường của điều kiện ngoại cảnh. Trong nông nghiệp, đất đai là những TLSX chủ yếu không thể thay thế được [24, tr.14] (hoàn toàn khác với công nghiệp, đất đai chỉ là mặt bằng xây dựng nhà xưởng), đất đai là môi trường sống không thể thiếu được của Trang 6 Luan van cây trồng và gia súc.
Trong nông nghiệp, đất đai vừa là ĐTLĐ, vừa là tư liệu lao động. Nó có những biểu hiện khác nhau về chất lượng, nhưng nếu được sử dụng hợp lý thì độ phì nhiêu của nó được bảo vệ và tăng lên. Độ phì nhiêu của đất đai là một yếu tố quyết định năng suất cây trồng và NSLĐ trong nông nghiệp. Vì vậy, bảo vệ và không ngừng làm tăng độ phì nhiêu màu mỡ của đất đai là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người lao động trong nông nghiệp.
SXNN có tính thời vụ nhất định: trong nông nghiệp, hai quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế liên hệ mật thiết với nhau. Thời gian lao động không trùng khớp với thời gian sản xuất mà chỉ là một phần của thời gian sản xuất, nằm xen kẽ trong thời gian sản xuất. Do đó, trong quá trình sản xuất, có những giai đoạn SXNN được tái sản xuất tự nhiên không cần sự tác động của quá trình kinh tế. Hơn nữa sản xuất có tính thời vụ nên trong nông nghiệp, lao động, máy móc và các TLSX khác không thể sử dụng liên tục quanh năm (nhất là ngành trồng trọt).
Cho nên việc tìm những biện pháp để giảm bớt tính thời vụ trong nông nghiệp là một nhiệm vụ của lịch sử, của các nhà kinh tế và kỹ thuật nông nghiệp. Trong thực tế, người ta đã áp dụng nhiều biện pháp như: chuyên môn hóa sản xuất kết hợp với kinh doanh tổng hợp, tăng vụ, xen canh gối vụ, luân canh, chế tạo những máy móc có tính đa năng hoặc cố gắng làm giảm tối đa những hao mòn hữu hình và vô hình của những tài sản cố định. SXNN được phân bố trên một phạm vi không gian rộng lớn và có tính khu vực. Vì đất đai là TLSX chủ yếu nên SXNN được phân bố rộng khắp hầu như trên các vùng lãnh thổ của cả nước.
Mặt khác, do các năng lực tự nhiên của sản xuất lại phân bổ không đồng đều giữa các vùng, các miền nên điều đó làm cho sản xuất mang tính khu vực. Điều này đòi hỏi phải xác định Trang 7 Luan van phương hướng để đạt hiệu quả cao nhất và tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp toàn diện. Ngoài những đặc điểm trên đây, nông nghiệp Việt Nam còn có những đặc điểm riêng, đó là: (1). Nông nghiệp Việt Nam đang còn là một nền nông nghiệp lạc hậu [24, tr.
Cho đến nay, nhiều nước đã có nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao, mọi hoạt động trong SXNN đã được cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa và tự động hóa. Nhờ đó, năng suất ruộng đất, NSLĐ của họ đạt rất cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong khi đó nông nghiệp nước ta đang ở trình độ rất thấp. Cơ sở vật chất, kỹ thuật của nông nghiệp lạc hậu.
Lao động xã hội đại bộ phận tập trung trong nông nghiệp. SXNN còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, tỷ suất nông sản hàng hóa còn thấp. Thu nhập của nông dân thấp, đời sống mọi mặt của họ còn hết sức khó khăn, sức mua thấp. Thị trường nhỏ lẻ, phân tán, manh mún, mang tính chất mùa vụ.
Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc [24, tr. Đặc điểm này mang lại cho nông nghiệp nước ta một số thuận lợi khá cơ bản. Chúng ta có nguồn nước phong phú, nguồn ánh sáng dư thừa, nhờ đó có thể tiến hành SXNN quanh năm. Tập đoàn cây trồng và vật nuôi của ta phong phú, đa dạng (có cả nhiệt đới và ôn đới), nhờ đó rất có điều kiện sản xuất những nông sản có giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên đặc điểm này cũng đem lại cho nông nghiệp nước ta những khó khăn không nhỏ, đó là thường xuyên bị sâu bệnh phá hoại. Ngoài ra, bình Trang 8 Luan van quân đất nông nghiệp trên một đầu người của nước ta thấp, lại phân tán manh mún cũng là một khó khăn đáng kể. Vì vậy, trong quá trình phát triển nền nông nghiệp nước ta theo hướng SXHH hiện đại, chúng ta cần tìm cách phát huy cao độ những mặt thuận lợi và hạn chế đến mức tối đa những mặt khó khăn của nó, bảo đảm cho nông nghiệp nước ta có sự phát triển nhanh và vững chắc. Phát triển nông nghiệp 1.