Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất nông nghiệp theo định hướng tăng trưởng xanh Phần 3: Phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu Phần 5: Kết luận và kiến nghị. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm tăng trưởng xanh Khái niệm “tăng trưởng xanh” lần đầu tiên được đề cập trên tờ Economist ngày 27 tháng 1 năm 2000 và bắt đầu được sử dụng rộng rãi qua forum Davos.
Sau đó khái niệm này được đưa ra và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ tại hội nghị của Uỷ ban Liên hợp quốc về kinh tế và xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (UNESCAP) năm 2005. Đặc biệt trong tuyên bố hội nghị các bộ trưởng của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD ngày 24 tháng 6 năm 2009 cũng bao gồm những nội dung của Tăng trưởng xanh. Như vậy trước những bất ổn về môi trường, thế giới cùng các nền kinh tế lớn đã triển khai sáng kiến “Tăng trưởng xanh” với nhận định đó là sự lựa chọn tốt nhất cho sự phát triển bền vững của các quốc gia, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định, vừa làm dịu những căng thẳng của thiên nhiên, ngăn chặn chảy máu tài nguyên và tạo nên bùng nổ việc làm trong thế kỷ XXI. Chưa có định nghĩa thống nhất về “Tăng trưởng xanh”.
Tuy nhiên, dựa trên quan điểm môi trường là một hệ thống các tài nguyên có giới hạn và có năng lực tự điều chỉnh và tự tái tạo thì “Tăng trưởng xanh” nói đến việc tạo dựng một hệ thống kinh tế phản ánh sự tích hợp giữa các hệ sinh thái và đảm bảo khả năng phục hồi của các hệ thống hỗ trợ sự sống. Theo Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP): "Tăng trưởng xanh" là định hướng mới thúc đẩy kinh tế phát triển theo những mô hình tiêu thụ và sản xuất bền vững, nhằm đảm bảo nguồn vốn tự nhiên tiếp tục cung cấp những nguồn lực và dịch vụ sinh thái mà đời sống của chúng ta phụ thuộc vào, cho thế hệ này cũng như cho những thế hệ mai sau. Hay tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nếu dựa trên niềm tin rằng, văn hoá và giá trị của con người là các nguồn lực quý giá nhất thì “Tăng trưởng xanh” là một hệ thống tăng trưởng kinh tế sung túc, bền vững cần được tạo ra để đảm bảo mọi thành viên của cộng đồng đều có khả năng tiếp cận những chuẩn mực sống căn bản và đầy đủ, cũng như các cơ hội phát triển của bản thân và xã hội.
“Tăng trưởng xanh” hay còn gọi là “Tăng trưởng sạch”, là sự phát triển kinh tế theo chính sách có định hướng là thị trường, nền tảng là các nền kinh tế truyền thống, mục tiêu là sự hoà hợp của kinh tế và môi trường, sinh thái. Động lực mới của Tăng trưởng xanh là bảo vệ môi trường, phát triển công nghệ sản xuất sạch, nhanh chóng đạt được mức tăng trưởng kinh tế bền vững. Cũng có thể hiểu rất đơn giản “Tăng trưởng xanh” là những hoạt động kinh tế, đặc biệt là sản xuất thân thiện với môi trường và phát triển năng lượng sạch. Sản phẩm của nó có thể là các toà nhà được xây dựng với các vật liệu ít gây ô nhiễm hơn, tiết kiệm nhiên liệu trong quá trình sử dụng và có thể tự tạo nhiên liệu; có thể là các sản phẩm sinh học (thực phẩm, mỹ phẩm, quần áo,…) chống ô nhiễm môi trường (hệ thống xử lý nước thải, rác,…), ngành giao thông vận tải (xe tiết kiệm nhiên liệu, sử dụng các nhiên liệu thiên nhiên nắng, gió, mặt trời,…), tất cả các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác phù hợp với tiêu chí “sản phẩm xanh”.
Bản chất của tăng trưởng xanh là mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường. Tăng trưởng xanh 1 (Kinh tế -> Môi trường) có nghĩa là tăng trưởng kinh tế không làm hại đến môi trường và Tăng trưởng xanh 2 (Môi trường -> Kinh tế) có nghĩa là môi trường được bảo tồn có thể tạo điều kiện tăng trưởng mới cho kinh tế (Vũ Anh Dũng, 2011). Tăng trưởng xanh 1 (Kinh tế -> Môi trường): Tăng trưởng kinh tế mà không làm suy thoái môi trường. Tăng trưởng xanh 1 theo đuổi sự tăng trưởng kinh tế không làm suy thoái môi trường dựa trên việc tối đa hoá hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong khi giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Tăng trưởng kinh tế mà không làm suy thoái môi trường là mục tiêu chính sách đã được nhấn mạnh bởi OECD kể từ năm 1990. Thực chất ô nhiễm môi trường không tự động giảm khi phát triển kinh tế nhưng nó có thể đạt được với ý chí chính trị của Chính phủ và những nỗ lực đáp ứng nhu cầu của người dân mỗi nước. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tăng trưởng xanh 2 (Môi trường -> Kinh tế): Tăng trưởng kinh tế mà sử dụng môi trường như một động cơ tăng trưởng mới. Tăng trưởng kinh tế sử dụng công nghệ xanh, các ngành công nghiệp xanh, thân thiện với môi trường.
Công nghệ xanh được coi là điểm mấu chốt nhất cho tăng trưởng xanh vì những hiệu quả sinh thái của nó trong sản xuất các sản phẩm, giảm tiêu thụ năng lượng và giảm thiểu các chất ô nhiễm và chất thải trong tiêu thụ sản phẩm. Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp (Phạm Quốc Trí, 2014). Phát triển sản xuất nông nghiệp * Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp gắn liền với nông thôn, quá trình sản xuất gắn liền với thiên nhiên, với môi trường và gặp nhiều rủi ro, đặc biệt với nước chưa phát triển, khoa học kỹ thuật, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, trình độ lao động thấp. Người nông dân vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu thụ sản phẩm của chính họ làm ra.
Do đó, tính phối hợp liên ngành như cung ứng vật tư, chế biến, tiêu thụ sản phẩm còn ở mức thấp, đóng góp từ khu vực nông nghiệp vào thu nhập quốc dân chưa cao và bất ổn định. * Vai trò, vị trí của sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển do các nước này đa số người dân sống dựa vào nghề nông. Nông nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào cho nền kinh tế. Do đó cần có các chính sách hợp lý để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp.
Nông nghiệp còn là ngành cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Phát triển nông nghiệp một cách toàn diện nhằm tích lũy cho công nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế. * Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp - Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Đất đai: Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong nông nghiệp; cây trồng – vật nuôi là đối tượng sản xuất trong nông nghiệp. Chính vì thế, nhân tố quan trọng hàng đầu đối với sản xuất nông nghiệp là đất đai rồi mới đến khí hậu và nguồn nước.
Đất đai ảnh hưởng quyết định đến quy mô, cơ cấu và phân bố nông nghiệp (đặc biệt với ngành trồng trọt) (Phạm Quốc Trí, 2014). Đất sản xuất nông nghiệp ở nước ta có hai nhóm chính là đất feralit và đất phù sa. Tùy theo các nhân tố, điều kiện hình thành và sự tác động của con người mà các loại đất trên có sự phân hóa khác nhau. + Khí hậu: nằm trong vành đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, khí hậu nước ta cơ bản là nhiệt đới.
Nhưng do hình thể trải dài theo chiều vĩ tuyến ở rìa Đông Nam của lục địa châu Á. Từ đèo Hải Vân trở ra chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh cực đới, từ đèo Hải Vân trở vào nóng quanh năm với một mùa khô và một mùa mưa. Tính chất nhiệt đới làm cho tổng lượng bức xạ mặt trời lớn, chế độ mưa phong phú (1. Khí hậu nước ta lại có sự phân hóa đa dạng theo chiều Bắc – Nam, theo mùa và theo độ cao.
Ở miền Bắc có khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa với một mùa Đông lạnh. Ở vùng núi cao có sương giá và rét đậm. Ở miền Nam khí hậu nhiệt đới điển hình với một mùa khô và mùa mưa. Ở miền Trung là nơi giao thoa khí hậu giữa hai miền Nam – Bắc.
Ảnh hưởng của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp: việc cung cấp lượng bức xạ lớn, nguồn ánh sáng dồi dào, nguồn nhiệt phong phú cho cây trồng phát triển quanh năm và cho năng suất cao. Độ ẩm không khí cao, lượng mưa dồi dào cho phép cây trồng có sức tái sinh mạnh mẽ, thúc đẩy nở hoa, kết trái. Cũng trong điều kiện nóng - ẩm còn giúp cho cây ngắn ngày tăng thêm từ 1 – 2 vụ/năm; đối với cây dài ngày có thể khai thác nhiều đợt, nhiều lứa/năm. Do các đặc trưng của khí hậu nước ta, đã tạo điều kiện để bố trí một tập đoàn cây trồng – vật nuôi đa dạng bao gồm cả nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới với hệ sinh thái phát triển bền vững.
Ở mỗi vùng khí hậu lại có sự tác động khác nhau đến sản xuất nông nghiệ: ở phía bắc đèo Hải Vân với sự nhiễu loạn về thời tiết đã tạo cho nửa phần phía Bắc nước ta một hệ sinh thái cực đoan giữa 2 mùa nóng – lạnh, ở đây thích hợp hơn cả là các cây ngắn ngày và cây ngày ngắn; đối với cây dài ngày và cây lâu năm, nên chọn cây trồng có biên độ sinh thái rộng của vùng cận nhiệt thì mới cho 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng suất cao.