Tổng quan nghiên cứu

Đất sản xuất nông nghiệp đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì an ninh lương thực và bảo đảm sinh kế cho hơn 70% dân số nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, phương thức phân chia ruộng đất theo Nghị định số 64/CP năm 1993 với nguyên tắc chia đều đất tốt, đất xấu, đất gần và đất xa đã dẫn đến tình trạng manh mún đồng ruộng nghiêm trọng trên cả nước. Tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội – vùng ven đô có tổng diện tích tự nhiên đạt 23.294,92 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 59,9% với 13.954,66 ha – trung bình mỗi hộ gia đình trước đây chỉ sở hữu từ 6 đến 8 sào ruộng nhưng bị chia cắt thành 10 đến 15 mảnh phân tán tại các xứ đồng khác nhau. Tình trạng manh mún này làm tăng chi phí sản xuất, tiêu tốn thời gian di chuyển và trở thành rào cản kỹ thuật lớn đối với việc áp dụng cơ giới hóa cũng như mở rộng vùng chuyên canh hàng hóa quy mô lớn.

Nhằm giải quyết những bất cập nêu trên, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý đất đai tập trung đánh giá toàn diện thực trạng công tác dồn điền đổi thửa và lượng hóa những tác động trực tiếp của quá trình này đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Chương Mỹ giai đoạn 2012–2016. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là phân tích biến động về quy mô ô thửa, diện tích đất dành cho giao thông và thủy lợi nội đồng, sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng và giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Kết quả của luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ thực chứng quan trọng để hoàn thiện chính sách tích tụ đất đai, đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới và nâng cao thu nhập bền vững cho 31.491 hộ nông dân trên địa bàn toàn huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế sử dụng đất và quy luật tiết kiệm thời gian lao động của Karl Marx, chỉ rõ rằng nâng cao hiệu quả sản xuất luôn gắn liền với việc phân bổ hợp lý và tối thiểu hóa hao phí lao động sống trên một đơn vị diện tích. Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết tối ưu hóa sản xuất và chi phí cơ hội của Paul Samuelson cùng khung đánh giá hiệu quả kinh tế đất nông nghiệp của tác giả Vũ Thị Bình (2005). Theo các lý thuyết này, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được xác định thông qua mối tương quan tối ưu giữa chi phí đầu tư đầu vào và giá trị thu hồi đầu ra, bảo đảm sự hài hòa giữa ba trụ cột: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường sinh thái.

Luận văn hệ thống hóa 4 khái niệm khoa học trọng tâm: manh mún đất đai (tình trạng nông hộ canh tác từ 3 thửa ruộng nhỏ lẻ trở lên), dồn điền đổi thửa (quá trình sắp xếp, quy tụ các ô thửa nhỏ thành thửa lớn liền vùng), hiệu quả sử dụng đất (khả năng tạo ra giá trị sản xuất GO, giá trị gia tăng VA và thu nhập hỗn hợp MI trên 1 ha) và mô hình cánh đồng mẫu lớn. Khung lý thuyết của đề tài được củng cố bởi hành lang pháp lý bao gồm Luật Đất đai năm 2013, Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Quyết định số 16/2012/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng nông thôn giai đoạn 2012–2016.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thống kê đất đai, bản đồ hiện trạng sử dụng đất giai đoạn 2012–2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chương Mỹ. Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn điểm nghiên cứu phân tầng có chủ đích nhằm đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái đặc thù của huyện: xã Đại Yên (đại diện vùng đồng bằng thuần nông, diện tích tự nhiên 435,81 ha), xã Tân Tiến (đại diện vùng bán sơn địa có địa hình phức tạp, diện tích 1.322,54 ha) và xã Văn Võ (đại diện vùng bãi ven sông Đáy, diện tích 451,69 ha).

Tại mỗi xã nghiên cứu, đề tài tiến hành điều tra phỏng vấn ngẫu nhiên 50 hộ nông dân trực tiếp tham gia sản xuất, tạo thành tổng cỡ mẫu khảo sát gồm 150 hộ. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao về mặt thống kê, phản ánh chính xác sự khác biệt về địa hình, hệ thống tưới tiêu và tập quán canh tác. Toàn bộ dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh trước và sau dồn điền đổi thửa để tính toán các chỉ tiêu kinh tế gồm tổng giá trị sản xuất (GO), chi phí trung gian (IC), giá trị gia tăng (VA), thu nhập hỗn hợp (MI) và giá trị ngày công lao động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô diện tích ô thửa và mức độ tập trung ruộng đất có bước chuyển biến rõ nét. Huyện Chương Mỹ đã triển khai thành công công tác dồn điền đổi thửa tại 31/32 xã, thị trấn với 31.491 hộ tham gia (đạt tỷ lệ 100% số hộ được giao đất nông nghiệp). Số thửa đất bình quân toàn huyện đã giảm mạnh từ 7,23 thửa/hộ xuống chỉ còn 2,80 thửa/hộ; trong đó có 26.034 hộ (chiếm 82,67%) chỉ còn canh tác từ 1 đến 2 thửa đất. Tại 3 xã điều tra điểm, quy mô diện tích bình quân một thửa sau dồn đổi đạt từ 674,57 m2/thửa (xã Đại Yên) đến 766,87 m2/thửa (xã Văn Võ), số thửa bình quân giảm xuống mức 2,11 đến 3,36 thửa/hộ.

Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp được mở rộng và nâng cấp đồng bộ. Diện tích đất dành cho giao thông nội đồng tại 3 xã nghiên cứu đã tăng từ 9,0% (xã Tân Tiến) lên đến 29,4% (xã Đại Yên); diện tích đất thủy lợi nội đồng tăng từ 2,7% (xã Tân Tiến) lên 32,7% (xã Văn Võ).

Thứ ba, giá trị sản xuất và thu nhập thực tế của nông hộ tăng trưởng vượt trội. Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác tại cả 3 xã đều tăng cao so với trước khi dồn đổi: xã Đại Yên đạt 79,50 triệu đồng/ha (tăng 29,05 triệu đồng), xã Tân Tiến đạt 76,14 triệu đồng/ha (tăng 28,79 triệu đồng) và xã Văn Võ đạt 70,15 triệu đồng/ha (tăng 31,90 triệu đồng). Thu nhập hỗn hợp trên 1 ha năm 2016 tại xã Đại Yên đạt 38,16 triệu đồng (tăng 16,47 triệu đồng), xã Tân Tiến đạt 34,26 triệu đồng (tăng 15,32 triệu đồng) và xã Văn Võ đạt 31,57 triệu đồng (tăng 17,03 triệu đồng). Giá trị ngày công lao động tại xã Đại Yên tăng thêm 68,83 nghìn đồng, đạt mức 126,44 nghìn đồng/công.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng mạnh mẽ về hiệu quả kinh tế xuất phát từ việc quy tụ các thửa đất nhỏ thành ô thửa lớn, giúp giải phóng sức lao động thủ công, cắt giảm từ 30% đến 40% thời gian đi lại chăm sóc đồng ruộng và tạo điều kiện thuận lợi để đưa máy cày công suất lớn, máy gặt đập liên hợp vào khâu thu hoạch. Người dân tại 3 xã nghiên cứu đã chủ động chuyển đổi từ độc canh lúa năng suất thấp sang các mô hình kết hợp đa canh có giá trị kinh tế cao như mô hình lúa – cá, lúa – cá – vịt, cây ăn quả kết hợp chăn nuôi tập trung.

Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua bảng so sánh hiệu quả kinh tế và biểu đồ phân bổ cơ cấu diện tích trước - sau dồn đổi cho thấy xu thế tối ưu hóa việc phân bổ tài nguyên đất đai. Khi so sánh với các nghiên cứu thực tế tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (số thửa giảm 34%, từ 4,80 xuống 3,16 thửa/hộ) hay tại tỉnh Thanh Hóa (diện tích thửa bình quân tăng từ 330 m2 lên 1.500 m2), kết quả tại huyện Chương Mỹ phản ánh mức độ thích ứng cao và tính quy luật phổ quát của chính sách tích tụ ruộng đất tại Đồng bằng sông Hồng. Mặc dù vậy, quá trình thực hiện tại địa phương vẫn bộc lộ hạn chế: công tác quy hoạch quỹ đất công ích ở một số xã còn dàn trải, địa hình bán sơn địa khiến xã Tân Tiến vẫn còn những hộ sở hữu từ 9 đến 11 thửa, và tiến độ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa còn chậm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch và xử lý dứt điểm các điểm nghẽn dồn đổi: Ủy ban nhân dân huyện Chương Mỹ cần chỉ đạo sát sao các xã vùng bán sơn địa rà soát lại quỹ đất nông nghiệp, phấn đấu trong giai đoạn 2018–2020 giải quyết triệt để tình trạng phân tán, giảm 100% số hộ có trên 4 thửa đất và đưa số thửa bình quân toàn huyện xuống dưới 2,0 thửa/hộ.

Thứ hai, nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng: Phòng Kinh tế phối hợp cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chương Mỹ triển khai đề án cứng hóa 100% các tuyến kênh mương tưới tiêu chính và mở rộng mặt đường giao thông nội đồng đạt chuẩn từ 3,0 m đến 5,0 m vào năm 2022, bảo đảm cho các phương tiện cơ giới tải trọng từ 2,5 tấn trở lên tiếp cận tận bờ ruộng.

Thứ ba, đẩy nhanh tiến độ đo đạc địa chính và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội chi nhánh Chương Mỹ cần hoàn thành công tác chỉnh lý bản đồ địa chính chính quy và hoàn tất việc cấp đổi Giấy chứng nhận mới cho 31.491 hộ dân trước năm 2021, tạo hành lang pháp lý minh bạch giúp nông dân an tâm vay vốn tín dụng và đầu tư thâm canh dài hạn.

Thứ tư, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và liên kết chuỗi giá trị: Trạm Khuyến nông huyện Chương Mỹ cùng các Hợp tác xã Nông nghiệp cần xây dựng từ 15 đến 20 mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2020–2025, tập trung vào lúa chất lượng cao và cây ăn quả an toàn, hướng tới mục tiêu nâng giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp đạt trên 120 triệu đồng/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước ngành Tài nguyên - Môi trường và Nông nghiệp: Luận văn cung cấp bài học kinh nghiệm thực tiễn và quy trình triển khai dồn điền đổi thửa tại 31 xã, thị trấn, hỗ trợ trực tiếp cho việc hoạch định chính sách tích tụ đất đai và quản lý quỹ đất công ích cấp cơ sở.

Thứ hai, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế nông nghiệp: Công trình cung cấp một khung phương pháp luận hoàn chỉnh, kết hợp phương pháp chọn mẫu phân tầng 3 tiểu vùng sinh thái với hệ thống chỉ tiêu kinh tế lượng chuẩn xác (GO, IC, VA, MI) để đánh giá hiệu quả sử dụng đất.

Thứ ba, Ban chỉ đạo chương trình Xây dựng Nông thôn mới tại các địa phương: Tài liệu đóng vai trò như một cẩm nang tham chiếu về giải pháp quy hoạch lại đồng ruộng, mở rộng quỹ đất giao thông, thủy lợi nội đồng (tăng từ 9,0% đến 32,7%) gắn liền với hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới.

Thứ tư, Ban quản trị các Hợp tác xã Nông nghiệp và doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp: Nghiên cứu cung cấp số liệu thực tế về 150 hộ điều tra để phân tích hiệu quả kinh tế của các mô hình luân canh, đa canh (lúa - cá, cây ăn quả), làm tiền đề xây dựng phương án liên kết sản xuất và bao tiêu nông sản quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Chương Mỹ đã làm giảm số thửa đất của mỗi hộ nông dân như thế nào? Sau khi hoàn thành dồn điền đổi thửa cho 31.491 hộ nông dân, số thửa bình quân toàn huyện giảm mạnh từ 7,23 thửa xuống 2,80 thửa/hộ. Tỷ lệ hộ chỉ còn canh tác từ 1 đến 2 thửa đạt 82,67% (tương ứng 26.034 hộ), giúp diện tích mỗi thửa tại xã Đại Yên và Văn Võ nâng lên mức 674,57 m2 đến 766,87 m2.

Dồn điền đổi thửa đã tác động ra sao đến hệ thống giao thông và thủy lợi nội đồng? Nhờ sự đồng thuận hiến đất và quy hoạch lại đồng ruộng của người dân, diện tích đất giao thông nội đồng tại 3 xã nghiên cứu đã tăng từ 9,0% đến 29,4%, đất thủy lợi nội đồng tăng từ 2,7% đến 32,7%. Hạ tầng đồng bộ này tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa máy cày và máy gặt đập liên hợp vào sản xuất.

Hiệu quả kinh tế trên một héc-ta đất nông nghiệp tại Chương Mỹ thay đổi như thế nào sau dồn đổi? Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác tại 3 xã điều tra tăng thêm từ 28,79 triệu đến 31,90 triệu đồng/năm. Tiêu biểu tại xã Đại Yên, giá trị sản xuất đạt 79,50 triệu đồng/ha và thu nhập hỗn hợp đạt 38,16 triệu đồng/ha, tăng gấp 1,75 lần so với thời điểm trước khi thực hiện dồn đổi ruộng đất.

Vì sao vẫn còn một số hộ gia đình tại Chương Mỹ sở hữu từ 9 đến 11 thửa đất sau dồn đổi? Hiện tượng này xuất hiện chủ yếu tại xã Tân Tiến thuộc vùng bán sơn địa, nơi địa hình bị chia cắt mạnh bởi đồi gò xen kẽ các dải đất trũng ngập nước và đất cát pha cằn cỗi. Do chênh lệch lớn về độ phì và nguồn nước tưới, việc dồn ghép toàn bộ về 1–2 thửa gặp nhiều rào cản kỹ thuật phức tạp.

Luận văn đã áp dụng những chỉ tiêu kinh tế nào để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp? Tác giả đã vận dụng hệ thống chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO), Chi phí trung gian (IC), Giá trị gia tăng (VA = GO - IC), Thu nhập hỗn hợp (MI) và Giá trị ngày công lao động. Toàn bộ các chỉ tiêu này được tính toán và kiểm chứng trên cỡ mẫu 150 hộ nông dân tại 3 tiểu vùng.

Kết luận

  • Luận văn đã tổng kết toàn diện công tác dồn điền đổi thửa tại 31/32 xã, thị trấn huyện Chương Mỹ với 31.491 hộ tham gia, giảm số thửa bình quân từ 7,23 xuống 2,80 thửa/hộ.
  • Diện tích đất hạ tầng giao thông và thủy lợi nội đồng được mở rộng tăng từ 2,7% đến 32,7%, tạo nền tảng vững chắc để đưa cơ giới hóa đồng bộ vào sản xuất nông nghiệp.
  • Hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nông nghiệp tăng từ 28,79 triệu đến 31,90 triệu đồng/năm, giá trị ngày công lao động của nông dân tăng thêm từ 49,36 nghìn đến 68,83 nghìn đồng/công.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là thiết lập khung đánh giá phân tầng sinh thái kết hợp bộ chỉ tiêu kinh tế lượng thực chứng, làm căn cứ chuyển đổi cơ cấu cây trồng hàng hóa.
  • Kế hoạch tiếp theo giai đoạn 2020–2025 cần tập trung hoàn thành cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và mở rộng từ 15 đến 20 mô hình nông nghiệp công nghệ cao với mục tiêu thu nhập đạt trên 120 triệu đồng/ha/năm.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ này để áp dụng những giải pháp chuyên sâu và số liệu phân tích đa chiều vào công tác quản lý, quy hoạch đất đai nông nghiệp tại địa phương.