Chương 1: Giới thiệu sơ lược dé tài nghiên cứu. Trinh bày lý do chọn lựa dé tài, ý nghĩa của dé tài, nội dung dé tài. Chương 2: Nêu một số khái niệm cơ bản, cơ sở lý thuyết và các phương pháp phân tích được sử dụng trong dé tài. Chương 3: Nêu khái quát tình hình kinh tế xã hội Việt Nam, thực trạng thu nhập và mức sống của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Chương 4: Mô tả nguồn số liệu nghiên cứu. Áp dụng thuật toán phân tích hồi quy của kinh tế lượng, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Qua đó, để xuất các giải pháp nhằm giúp các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống của họ. Chương 5: Rút ra một số kết luận và kiến nghị từ dé tài nghiên cứu.
19 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm người dân tộc thiểu số Người dân tộc thiểu số được xác định là những người có quốc tịch và sinh sống tại Việt Nam song không có cùng ngôn ngữ, đặc tính và các đặc thù văn hoá khác với dân tộc Kinh. Các dân tộc thiểu số thường được coi là một nhóm đồng nhất mặc dù trong thực tế 53 nhóm dân tộc thiểu số có sự khác nhau về ngôn ngữ, cách làm nông nghiệp, quan hệ gốc rễ, lối sống và tín ngưỡng. Trong số 54 dân tộc thi dân tộc Kinh chiếm tới 86% dân số, các nhóm dân tộc thiểu số chiếm 14%. Đó là một tỷ phần dân số đáng kể nếu biết rằng với 10 triệu người thì dân số các dân tộc thiểu số của Việt Nam đã lớn hơn dân số của nước Lào.2 Khái niệm thu nhập của dân cư 2.1 Tổng thu của dân cư Là biểu hiện bằng tiền, tổng hợp các kết quả hoạt động sản xuất, dịch vu và các khoản thu khác mà người ta nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (1 tháng, 1 quý hoặc 1 năm).
Tổng thu = thu do kết quả hoạt động sản xuất và dịch vụ Bao gồm: Thu từ tiền công lao động, thu do cho thuê tài sản, thu từ các khoản trợ cấp xã hội, thu do người khác tặng, biếu, thu từ các kết quả đầu cơ, trúng xổ số, lãi gửi tiết kiệm. 20 Tổng thu nhập của dân cư Là toàn bộ các khoản thu nhập của dân cư được biểu hiện bằng tiền mà người ta đã nhận được trong một khoảng thời gian nào đó. Tổng thu nhập của dân cư = Tổng thu của dân cư — Tổng chi phí vật chất và dịch vụ đã sử dung cho hoạt động sản xuất và dịch vụ của dân cư. Thu nhập cuối cùng của dân cư (thu nhập danh nghĩa) Đó là phân thu nhập còn lại của dân cư sau khi đã trừ đi các khoản phải thanh toán với hệ thống tài chính, tín dụng như nộp thuế các loại; đóng góp tự nguyện, nộp đoàn thể phí.
Thu nhập cuối cùng là phần mà dân cư có thể được sử dụng hay còn gọi là thu nhập có thể sử dụng.2 Thu nhập thực tế của dân cư Là phần thu nhập của dân cư sau khi đã loại trừ ảnh hưởng của những biến động giá cả hàng hoá và dịch vụ Thu nhập thực tế của dân cư = Thu nhập cuối cùng của dân cư / chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ. Thu nhập thực tế của dân cư là một chỉ tiêu quan trọng biểu hiện bằng giá trị những của cải vật chất mà nhân dân có thể mua sắm được để tiêu dùng hoặc tích luỹ trên cơ sở những thu nhập bằng tiền kể cả sử dụng những công việc dịch vụ phải trả tiền. Thu nhập thực tế tạo ra nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư, đánh giá chất lượng cuộc sống của dân cư về mặt chất lượng (số tương đối). Thu nhập thực tế của dân cư phụ thuộc vào 2 yếu tố sau: Thu nhập cuối cùng của dân cư và chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ.
21 TNCC của dân cư phụ thuộc vào nhịp độ tăng trưởng GDP, việc phân phối và phân phối lại GNP, vấn dé thuế khoá. Chỉ số giá cả hang hoá va dịch vụ tuỳ thuộc vào quan hệ giữa san xuất (GNP) với lạm phát, công ăn việc làm, chính sách tiền tệ.3 Khái niệm nghèo đói Đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu, hộ đói thường có các đặc trưng cơ bản sau: thiếu ăn, nợ không có khả năng hoàn trả, phải vay nặng lãi để làm ăn, con em không có điều kiện đến trường, ốm đau không có tiền chạy chữa, phải đi làm thêm dé lấy miếng ăn hằng ngày. Doi nông thôn nước ta thường đưa vào nghèo tuyệt đối. Nghèo là tình trạng bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp hơn trung bình của cộng đồng dân cư tại địa phương xem xét.
Dù ở tinh trạng nào, nghèo vẫn có quan hệ mật thiết với đói. Nghéo là một kiểu đói tiém năng và đói là tình trạng hiển nhiên của nghèo.4 Quan hệ giữa thu nhập, tiêu dùng với tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Thu nhập là yếu tố quyết định tiêu dùng, quyết định mức sống và mức độ tích luỹ tài sản. Nhìn chung thu nhập của dân cư là do kết quả của lao động đem lại. Trong chu trình kinh tế quốc dân, các hộ gia đình cung cấp cho các hãng sức lao động là một yếu tố của sản xuất.
Còn hãng sẽ trả công và tiền mua các yếu tố san xuất từ hộ gia đình. Như vậy, giao lưu hàng hoá giữa hộ gia đình và hãng là yếu tố quyết định thu nhập của hộ. Nói cách khác, sản xuất là nguồn gốc của thu nhập, thu nhập phụ thuộc vào kết quả sản xuất. 22 Khi hộ gia đình có thu nhập, họ sử dụng nó để mua hàng hoá và dịch vụ do hãng sản xuất ra.
Thu nhập của hộ tạo ra cầu có kha năng thanh toán để cân bằng với cung do sản xuất tạo ra. Thu nhập ở đây có vai trò kích thích sản xuất. Phần thu nhập cận biên được chia ra cho tích luỹ (để dành) và tiêu dùng trên hạn mức. Để dành của dân cư được bơm vào dòng chu chuyển dưới dạng đầu tư nhằm tái sản xuất mở rộng.
Tiêu dùng trên hạn mức tao ra mức tăng của tổng cầu. Cả hai yếu tố này lập nên số nhân cho GNP. Thu nhập là yếu tố quan trong chi phối đầu tư cho giáo dục, đào tạo, y tế. Mức đầu tư cho các lĩnh vực trên tỉ lệ thuận với thu nhập.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của dân cư Ảnh hưởng đến thu nhập của dân cư do nhiễu nhân tố song chủ yếu là các nhân tố đó tác động tỷ lệ thuận.
Thí dụ, thu nhập của hộ dân cư phụ thuộc vào các nhân tố chủ quan như: Quy mô đất nông nghiệp, lâm nghiệp, số lượng lao động của hộ, trình độ học vấn của chủ hộ,. Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào vài yếu tố khách quan như: vùng kinh tế — xã hội, ngành nghề và cơ cấu ngành sản xuất, dân tộc. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số cũng bao gồm các đặc điểm như trên. Với những nét riêng về con người, phong tục tập quán, cách nhìn của xã hội đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
và những tách biệt khác như ngôn ngữ làm cho các hộ đồng bào phụ thuộc nhiều hơn đến các nhân tố tác động này.6 Sự chênh lệch trong thu nhập của dân cư Mức độ chênh lệch về thu nhập diễn ra không chỉ giữa các vùng, giữa các dân tộc mà ngay trong nội bộ từng vùng và từng dân tộc cũng có sự chênh lệch 23 lớn. Đánh giá mức độ chênh lệch (sự không bình đẳng) về thu nhập là điều cần thiết để có chính sách điều tiết thu nhập như: Dùng thuế, dùng các chính sách huy dộng bớt một phần thu nhập của người giàu chia cho người nghèo. Người nghèo được giúp đỡ thông qua sự trợ giúp của nhà nước như trợ cấp xã hội, cho vay vốn qua quỹ xoá đói giảm nghèo, hưởng thụ các hàng hoá công cụ không phải trả tiền. Sự chênh lệch về thu nhập của dân cư là điều tất yếu ở các nước.
Một số nhà kinh tế cho rằng sự chênh lệch là cần thiết đối với những nước đang trong quá trình vận động từ nền kinh tế chậm phát triển, đang phát triển lên kinh tế công nghiệp phát triển. Chỉ có trên cơ sở người làm giỏi có thu nhập cao, người làm kém có thu nhập thấp mới kích thích được người giỏi hăng hái lao động, dám nghĩ dám làm. Khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao, thu nhập tính trên đầu người vài ba chục ngàn USD thì xã hội sẽ giảm dần mức độ chênh lệch. Khi đó, nhà nước sẽ quan tâm nhiều hơn tới chính sách xã hội.7 Tình hình tiêu dùng của dân cư Tiêu dùng của dân cư là yếu tố kích thích sản xuất.
Mục đích của sản xuất là để tiêu dùng. Tiêu dùng của dân cư là yếu tố quyết định qui mô của tổng cầu nói chung và tổng cầu có khả năng thanh toán nói riêng. Khi lập kế hoạch cung cấp sản phẩm cho xã hội, các doanh nghiệp phai xuất phát từ dự báo nhu cầu có kha năng thanh toán. Nhìn chung, tiêu dùng của dân cư phụ thuộc vào thu nhập.
Mức độ tiêu dùng phụ thuộc vào các yếu tố sau: mức độ thu nhập trước mắt, mức độ thu nhập ổn định hoặc không ổn định, xu hướng triển vọng trong tương lai, những khoản thu nhập ngoài dự kiến, tài sản tích luỹ của cha ông để lại. 24 Nếu xét riêng lẽ trong từng hộ quả là việc tiêu dùng diễn ra rất đa dạng. Song nếu xét trên tổng thể chung của một vùng hoặc một quốc gia thì quá trình đó diễn ra theo một quy luật nhất định. Khi thu nhập ở mức thấp, tiêu dùng của dân cư thường tập trung vào nhu cầu cơ bản về ăn.
Khi thu nhập tăng lên, phan chi tiêu này cũng tăng nhưng nhịp độ chậm dần. Nó dần tiến đến mức độ bão hoà. Nhu cầu chi tiêu cho giáo dục đào tạo, may mặc cũng tăng theo mức tăng của thu nhập và cũng đạt tới mức độ chậm dần khi thu nhập đạt ở mức rất cao. Chi tiêu cho nhà ở cũng tăng lên, nhưng mức độ bão hoà ở mức độ có thu nhập rất cao.
Những khoản chi tiêu cho sinh hoạt, văn hoá, mua sắm phương tiện đi lại gần như là nhu cầu khó đạt được mức độ bão hoà.