Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 2. Các khái niêm liên quan 2.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế * Tăng trưởng Tăng trưởng là một vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay của các quốc gia trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng. Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự vật nhất định. Trong nền kinh tế, tăng trưởng được thể hiện sự gia tăng hơn trước về sản phẩm hay số lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm).
Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ (Phạm Ngọc Linh, 2011). Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là mức tăng lượng của cải (tài sản) trong một thời kỳ nhất định.
Khái niệm này có thể được áp dụng cho nhiều cấp độ, cho toàn nền kinh tế, cho từng ngành, cho các doanh nghiệp, cho cấp độ gia đình và cấp độ cá nhân. Để phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ, người ta thường dùng giá trị tuyệt đối của các đại lượng để so sánh chúng với nhau. Chênh lệch giữa các thời điểm chính là mức tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ cụ thể. Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế còn được phản ánh bằng tốc độ gia tăng của các đại lượng trong các giai đoạn với nhau và 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được đo bằng phần trăm thay đổi, giá trị phần trăm cao hay thấp thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm (Đào Thế Tuấn, 2012).
Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự vật nhất định. Trong kinh tế, tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn trước về sản phẩm hay lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động. Tăng trưởng kinh tế là phạm trù cơ bản nhất của lý luận kinh tế, là tiền đề vật chất và cơ sở kinh tế của sự tồn tại và phát triển của mọi hình thái xã (Phạm Ngọc Linh, 2011). * Phát triển kinh tế Tăng trưởng là tăng về số lượng, còn phát triển không những tăng về số lượng mà còn phong phú hơn về chủng loại, chất lượng và phù hợp hơn về cơ cấu, phân bố của cải.
Phát triển được định nghĩa là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng mở rộng sản xuất. Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ). Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn (Phạm Ngọc Linh, 2011).
Trong kinh tế, phát triển là quá trình chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng sản phẩm, sự hoàn thiện về cơ cấu nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng mọi mặt của cuộc sống (Phạm Ngọc Linh, 2011). Như vậy, có thể hiểu phát triển kinh tế trước hết là sự gia tăng nhiều hơn về số lượng và chất lượng sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại sản phẩm của nền kinh tế. Đồng thời, phát triển còn là sự thay đổi theo chiều hướng tích cực trên tất cả các khía cạnh của nền kinh tế, xã hội. Đó là sự thay đổi về cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng (Đào Thế Tuấn, 2012).
Khái quát lại thì phát triển kinh tế là sự tăng lên mọi mặt của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó, bao gồm cả sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội, tức là cả về mặt lượng và chất của một nền kinh tế. Ngày nay, con người cần nhận rõ rằng một nền kinh tế được coi là phát triển thì phải đảm bảo hài hòa và toàn diện các mục tiêu về hiệu quả kinh tế, hiệu quả về xã hội và môi trường (Đào Thế Tuấn, 2012). Khái niệm trang trại Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về trang trại và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về trang trại và kinh tế trang trại.
Tùy vào mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà các học giả đưa ra các quan điểm khác nhau. Khi chúng ta nói về “trang trại” tức là nói đến những cơ sở SXKD nông nghiệp của một loại hình tổ chức sản xuất nhất định theo nghĩa rộng bao gồm cả hoạt động xã hội kinh doanh trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (NTTS). Bản thân cụm từ “trang trại” là đề cập đến tổng thể những mối quan hệ KT- XH, môi trường nảy sinh trong quá trình hoạt động SXKD của các trang trại, quan hệ giữa các trang trại với nhau, giữa các trang trại với các tổ chức kinh tế khác, với Nhà nước, với thị trường, với môi trường sinh thái tự nhiên (Nguyễn Đình Hương, 2010). Có quan điểm cho rằng: Trang trại là đơn vị sản xuất cơ sở trong nông nghiệp, được phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân, với mục đích chính là sản xuất hàng hóa (Bùi Bằng Đoàn, 2009).
Trang trại là đơn vị kinh tế sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả nông - lâm - thủy sản) của một người chủ trang trại. Họ vừa làm chủ về ruộng đất, làm chủ về tư liệu sản xuất, vừa là người tổ chức sản xuất kinh doanh, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình, với mục đích chính là sản xuất hàng hóa và một phần sản phẩm được sử dụng tiêu thụ gia đình (Bùi Bằng Đoàn, 2009). “Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất sản phẩm hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô diện tích ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt đông tự chủ và luôn gắn với thị trường” (Nguyễn Đình Hương, 2010). Khi nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế trong nông nghiệp, các nhà kinh tế thấy rằng, khi công nghiệp phát triển thì nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho tiêu dùng, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và hàng xuất 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khẩu tăng lên rất lớn.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp thì không thể dựa vào hình thức sản xuất nông hộ với quy mô nhỏ lẻ, manh mún với phương thức canh tác lạc hậu, sản xuất tự cung, tự cấp. Như vậy, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội thì đòi hỏi các hộ nông dân phải sản xuất theo hướng hàng hóa, tập trung với quy mô lớn và hình thành nên các nông trại hay trang trại như ngày nay. Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại ở nước ta có xu hướng phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng trên nhiều địa phương. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các khái niệm và nội dung của trang trại, kinh tế trang trại là cần thiết để có được những nhận thức đúng đắn trong công việc đánh giá đúng thực trạng phát triển của nó (Nguyễn Đình Điền, 2014).
Trong từ điển Việt, trang trại được hiểu một cách khái quát là: “ Trại lớn sản xuất nông nghiệp”. Trên thế giới đều dùng phổ biến từ farm (tiếng Anh) và feme (tiếng Pháp) mà các từ điển Anh – Việt của ta đều dịch là trang trại và các văn kiện của Đảng đều dùng thuật ngữ “ trang trại”. Trong các tài liệu nghiên cứu về kinh tế trang trại thường gắn với ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp gọi là “ nông trại”, “ lâm trại”, “ngư nghiêp” để phân biệt chuyên ngành sản xuất. Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học kinh tế, trang trại và kinh tế trang trại được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau, thể hiện rõ qua các khái niệm.
Trang trại là một đơn vị kinh tế hộ gia đình có tư cách pháp nhân, được Nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích đất đai, rừng, biển hợp lý: để tổ chức lại quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và cộng nghệ mới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hơn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của từng đơn vị diện tích, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của mọi người tham gia (Nguyễn Thế Nhã, 2012). Trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, sử dụng lao động tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả (Nguyễn Thế Nhã, 2012).