CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu liên quan tới hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng quốc tế Hiện nay, để thực hiện mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ, các ngân hàng phải đẩy mạnh dịch vụ thẻ và hoạt động kinh doanh thẻ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, thẻ ghi nợ vẫn đang chiếm tỷ trọng rất lớn, trong khi thẻ tín dụng hiện vẫn còn khá mới mẻ, chưa tiếp cận được với đa số người dân. Đã có một số đề tài khoa học cũng như các bài viết đề cập đến thành tựu đạt được, tồn tại và các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại Việt Nam.
Bài viết “Một số vấn đề về thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam” của Thạc sỹ Phi Hồng Hạnh, Đại học Tài chính – Quản trị kinh doanh đăng trên Tạp chí công thương ngày 11/03/2015 đề cập đến những hạn chế còn tồn tại của thị trường thẻ tín dụngViệt Nam.Trước hết, việc phát triển thẻ tín dụng mới thiên về lượng mà chưa chú trọng về chất, chưa chú trọng tới việc thúc đẩy giao dịch bằng thẻ tín dụng của chủ thẻ. Thứ hai, dư nợ thẻ tín dụng hiện đang chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng dư nợ các khoản vay tiêu dùng trên toàn hệ thống ngân hàng. Thứ ba, lãi suất và phí thẻ tín dụng đang rất cao so với các sản phẩm ngân hàng khác. Thứ tư, hạ tầng thanh toán còn chưa phát triển tốt và phân bố không đồng đều.
Các giải pháp tác giả đưa ra là cần phải đầu tư công nghệ hiện đại; đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tiện ích thẻ tín dụng; hoàn thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ và tăng tính hấp dẫn của thẻ nhằm tăng lượt sử dụng; tăng cường phát triển thẻ đồng thương hiệu nhằm tiếp cận với nhiều khách hàng hơn và tăng thêm nhiều tiện ích về thẻ. Theo bài viết “Triển khai thẻ tín dụng trong chi tiêu công” đăng trên Tạp chí Ngân quỹ Quốc gia số 171, thẻ tín dụng mua hàng trong chi tiêu công đã được triển khai thí điểm tại Kho bạc Nhà nước Hà Nội và Kho bạc Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh, bước đầu đã có những tín hiệu khả quan. Đại diện của đơn vị đăng ký 5 phát hành thẻ tín dụngdùng thẻ để mua sắm hàng hóa dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ. Đến hạn thanh toán, đơn vị đối chiếu danh sách giao dịch, lập chứng từ thanh toán để gửi ra kho bạc làm thủ tục.
Sau khi rà soát thông tin và thủ tục chuẩn xác, Kho bạc sẽ thanh toán tiền vào hạn mức thẻ tín dụng của Đơn vị. Việc sử dụng thẻ tín dụng trong chi tiêu công có lợi ích như sau: triển khai thanh toán theo đúng chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt của Nhà nước; giảm căng thẳng cho ngân sách Nhà nước tại các thời điểm thiếu hụt ngân sách tạm thời do nguồn thu chưa tập trung kịp; giảm thiểu thủ tục thanh toán so với các phương thức truyền thống khác; minh bạch các khoản chi tiêu, giảm thiểu các khoản chi không đúng chế độ quy định. Luận văn thạc sỹ đề tài “ Hoạt động bán hàng cá nhân sản phẩm thẻ tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phấn Á Châu – chi nhánh Hà Nội” – của tác giả Lê Thị Thu Hà (2013) trường Đại học Kinh tế quốc dân đã phân tích rất kỹ càng công tác bán thẻ tín dụng, khảo sát được độ hài lòng của khách hàng dựa trên việc phỏng vấn 300 khách hàng có sử dụng dịch vụ của ngân hàng Á Châu và đã đạt được những kết quả khá chính xác về đội ngũ kinh doanh của ngân hàng Á Châu. Theo ý kiến của tác giả, bên cạnh các yếu tố khác như: hoạt động Marketing, hoạt động phát triển sản phẩm, chiến lược phát triển … thì đội ngũ bán hàng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình đẩy mạnh hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng.
Nhưng theo quan điểm cá nhân của tác giả, tác giả đánh giá cao việc phục vụ trực tiếp khách hàng nhằm đạt được sự hài lòng hơn so với các yếu tố quan trọng khác. Thực tế, nền tảng sản phẩm, vận hành sản phẩm có tốt thì mới giúp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh được. Trần Thị Hồng Lương (2014) – trường Đại học Kinh tế, đề tài luận văn thạc sỹ “Quản lý hoạt động kinh doanh thẻ tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam - Techcombank. Techcombank đã khá mạnh và có tên tuổi trong thị trường thẻ nên định hướng phát triển của ngân hàng này khá khác biệt so với nhóm ngân hàng đang đi tìm thị trường.
Tuy nhiên, tác giả cũng không đi sâu vào phân tích một dòng thẻ cụ thể. Đối với một ngân hàng lớn có các loại sản phẩm hướng tới các đối tượng sản 6 phẩm khác nhau thì giải pháp khó có thể áp dụngcho mọi loại sản phẩm được. Do vậy, vẫn chưa nhận thấy một cách rõ ràng hướng đi cho hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng của Techcombank trong nghiên cứu này của tác giả. Nguyễn Thanh Bằng (2016) – trường Đại học Bách Khoa trong đề tài luận văn thạc sĩ “Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)” chỉ ra các ưu điểm, các mặt hạn chế của hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng nói chung tại ngân hàng Ngoại thương.
Tuy nhiên, đề tài chỉ đưa ra các nội dung chung về thẻ tín dụng của Vietcombank. Thực tế, mỗi loại thẻ tín dụng (nội địa hay quốc tế …) có một đặc điểm và đối tượng khách hàng khác nhau. Vì thế, nếu gộp chung lại thì sẽ không sâu sát và thiếu tính hiệu quả cho một dòng thẻ nhất định, nhất là thẻ tín dụng quốc tế với các đặc điểm khác biệt so với các dòng thẻ khác. Ngoài ra, đề tài mới chỉ nghiên cứu dịch vụ thẻ tín dụng từ hai góc độ: hoạt động phát hành thẻ tín dụng và hoạt động thanh toán thẻ tín dụng chứ chưa đề cập đến khía cạnh kinh doanh, quản trị rủi ro… 1.
Đánh giá chung và khoảng trống nghiên cứu Từ trước tới nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan tới dịch vụ và kinh doanh thẻ tín dụng tại Việt Nam của các tác giả khác nhau. Điều này chứng tỏ, sản phẩm thẻ tín dụng đang ngày càng được quan tâm và đẩy mạnh phát triển tại Việt Nam. Các công trình nói trên đã nghiên cứu hoặc phân tích về hoạt động phát triển sản phẩm và kinh doanh thẻ ngân hàng hoặc các loại thẻ tín dụng nói chung. Tuy nhiên, hầu hết các luận văn đều chưa đi vào phân tích sâu về thẻ tín dụng quốc tế cũng như định hướng kinh doanh sản phẩm này, mặc dù thanh toán thẻ tín dụng quốc tế đang dần trở thành xu hướng thanh toán tất yếu trên thế giới.
Khá nhiều đề tài nghiên cứu đã lâu, không còn phù hợp với sự thay đổi không ngừng nghỉ của công nghệ thẻ hiện đại nên đã không còn phù hợp với thực tế hiện nay. Hơn thế nữa, hầu hết các đề tài nghiên cứu về thẻ tín dụng thường tập trung về khía cạnh gia tăng về quy mô, số lượng thẻ phát hành chứ 7 chưa tập trung phân tích về doanh số giao dịch, tỷ lệ nợ quá hạn cũng như doanh thu phí mang lại từ thẻ. Các chỉ tiêu này mới chính là thước đo hiệu quả của hoạt động kinh doanh thẻ. Bên cạnh đấy, từ trước tới nay chưa có một nghiên cứu nào về thẻ tín dụng quốc tế được thực hiện tại một đơn vị đi sau thị trường và năng lực sản phẩm còn khá non yếu như ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB).
Tuy họ không có nhiều lợi thế so với các đối thủ nhưng mục tiêu phát triển sản phẩm thẻ tín dụng đang là vấn đề quan trọng đang được ban lãnh đạo NCB rất quan tâm, nhằm mục đích từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của NCB. Vậy, với những nền tảng kinh doanh không thuận lợi như thế, NCB đã, đang và sẽ phải làm thế nào để có thể hiện thực hóa được mục tiêu của mình? Đây là điều rất cần đầu tư xem xét và nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TÍN DỤNG QUỐC TẾ 2. Một số lý thuyết về thẻ tín dụng quốc tế 2.
Thẻ ngân hàng 2. Khái niệm Thẻ ngân hàng Thanh toán không dùng tiền mặt là một xu hướng phổ biến trong xã hội hiện đại và là một phương thức thanh toán được khuyến khích sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy, ở Việt Nam, từ năm 2006 tới nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt nhiều đề án, nghị quyết liên quan tới thanh toán không dùng tiền mặt. Đặc biệt gần đây nhất là quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 về việc phê duyệt đề án thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020.
Điều này chứng tỏ đây là xu hướng thanh toán tất yếu không chỉ của Việt Nam mà còn của toàn thế giới. Thẻ ngân hàng là một trong những phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến, khởi đầu từ việc mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng các công nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng. Nhờ có nó mà các nhu cầu về thanh toán của chủ thẻ được đáp ứng một cách tốt hơn, bao gồm rút tiền mặt hoặc thanh toán hàng hóa dịch vụ. Thẻ đại diện cho tiền, nhưng không hoàn toàn là tiền mà được coi như đại diện cho sự cam kết của TCPHT đảm bảo cho giao dịch thanh toán của chủ thẻ (từ nguồn tiền gửi hoặc khoản vay của chủ thẻ tại TCPHT) Tại Việt Nam, thẻ ngân hàng được hiểu là phương tiện thanh toán do TCPHT phát hành để thực hiện các giao dịch thẻ tuân thủ các điều kiện và điều khoản theo thỏa thuận của các bên liên quan.
Các TCPHT hiện nay bao gồm các ngân hàng TMCP, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và một số công ty tài chính. Theo quy định của NHNN, trên thẻ ngân hàng phải có các thông tin sau: - Tên TCPHT - Tên hoặc nhãn hiệu thương mại của thẻ; 9 - Họ, tên đối với chủ thẻ là cá nhân; tên tổ chức đối với chủ thẻ là tổ chức và họ, tên của cá nhân được tổ chức ủy quyền sử dụng thẻ (quy định này không áp dụng đối với thẻ trả trước vô danh).