Chương 1: Lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Vietinbank tại CHDCND Lào Chương 3: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Vietinbank tại CHDCND Lào 7 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Khái niệm về ngân hàng thương mại được quy định của pháp luật. Theo điều 4, luật các tồ chức tín dụng của CHXHCN Việt nam, ngày 16 tháng 06 năm 2010, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh “đặc biệt” – kinh doanh tiền tệ chính vì vậy có những điểm khác biệt so với tổ chức kinh doanh khác trong nền kinh tế. Những điểm khác biệt này giúp cho NHTM thể hiện được vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Thứ nhất, NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ - là lĩnh vực đặc biệt, nhạy cảm, tác động trực tiếp đến mọi ngành nghề, mọi hoạt động, mọi chủ thể trong nền kinh tế. Do đó mọi biến động dù là nhỏ trong nền kinh tế xã hội cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM.
Hơn thế nữa, hệ thống ngân hàng thương mại được coi là nền móng của nền kinh tế nên hoạt động ngân hàng luôn chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ phía Chính Phủ nhằm ổn dịnh tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng tài chính có thể xảy ra. Thứ hai, hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng. Khi khách hàng có lòng tin, ngân hàng có thể dễ dàng huy động vốn và sử dụng nguồn vốn này để cho vay và ngược lại. Thứ ba, Hoạt động kinh doanh của NHTM có nhiều loại rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro hệ thống.
Bản thân NHTM là một tổ chức đi vay để cho vay , khả năng thanh khoản của ngân hàng phụ thuộc cung cầu vốn trên thị trường, khả năng huy động vốn của ngân hàng, khả năng trả nợ của người đi vay và năng lực quản trị ngân hàng. Mặt khác, khi sự biến động của lạm 8 phát trong nền kinh tế nằm ngoài khả năng dự báo thì NHTM còn phải đối mặt với những rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất. Thứ tư, Hoạt động kinh doanh của các NHTM chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau. Khi có một ngân hàng mất khả năng thanh toán thì sẽ tạo ra một tác động lan truyền đến các NHTM khác.
Vì vậy, trong kinh doanh các NHTM cạnh tranh với nhau nhằm khẳng định vị thế của mình trên thị trường, trên cơ sở cùng tồn tại chứ không triệt tiêu lẫn nhau. Như vậy ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế nhằm mục tiêu lợi nhuận. Chức năng của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại thực hiện 3 chức năng cơ bản sau: Chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. rung gian tín dụng Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM, quyết định sự phát triển và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Chức năng trung gian tín dụng thể hiện thông qua việc ngân hàng tập trung các nguồn tiền nhàn rỗi và đáp ứng các nhu cầu về vốn cho cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Trung gian thanh toán Vai trò trung gian thanh toán được thể hiện qua các sản phẩm cung ứng dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM đóng vai trò là một tổ chức trung gian thực hiện việc thanh toán, chí trả thay cho những khách hàng có nhu cầu thanh toán qua ngân hàng theo sự ủy nhiệm của khách hàng.
9 Để thực hiện chức năng này, NHTM phải tổ chức mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng, phát hành và quản lý các phương tiện thanh toán, tố chức thực hiện thanh toán khi nhận được lệnh thanh toán của khách hàng. Xu thế chung của hầu hết các nước trong đó có Việt Nam, việc sử dụng tiền mặt là rất hạn chế và tỷ trọng thanh toán dùng tiền mặt ngày càng giảm. Người tiêu dùng đều nhận thức được thanh toán qua ngân hàng bằng các hình thức như chuyển khoản, sử dụng thẻ hay Séc. thuận tiện hơn nhiều so với dùng tiền mặt.
Như vậy, chức năng trung gian thanh toán mang lại sự tiện lợi cho khách hàng trong hoạt động thanh toán đồng thời góp phần thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, nâng cao uy tín thương hiệu ngân hàng trên thị trường. ạo tiền Trong chức năng này đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều ngân hàng, và nhiều khách hàng. Khi kết hợp chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra một lượng tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng lớn hơn gấp nhiều lần so với lượng tiền gửi ban đầu của khách hàng. Có 2 mức độ tạo tiền như sau: - Khi khách hàng vay tiền ngân hàng A sẽ phải ký giấy cam kết trả tiền (hợp đồng tín dụng) và nhận khoản tiền gửi của ngân hàng (trên tài khoản giao dịch).
Do đó, khi cho vay, các ngân hàng đã tạo tiền bằng cách thiết lập các khoản tiền gửi có thể chi tiêu. - Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo tiền khi các khoản tiền gửi được sinh sôi trên cơ sở dòng tín dụng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác. Hoạt động của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có các hoạt động kinh doanh bao gồm: + Huy động vốn: là hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu. theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho khách hàng theo đúng thời hạn thỏa thuận.
10 + Cấp tín dụng là việc thỏa thuận đế tố chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoăc cam kết cho phép sử dụng một tài sản theo nguyên tắc cổ hoàn trả và lãi bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. + Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chỉ, ủy nhiệm chỉ, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản tiền gửi của khách hàng. + Các hoạt động kinh doanh khác của NHTM: Dịch vụ ngân quỹ; dịch vụ ủy thác; dịch vụ môi giới tiền tệ; dịch vụ kinh doanh ngoại hối và các dịch vụ khác: quản lý tài sản, tư vấn tài chính.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Cạnh tranh Theo giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin cho rằng: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu hút được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh.
Đứng trên quan điểm người bán, P.Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường” Chú trọng hơn đến tính chất cạnh tranh và phương pháp cạnh tranh, Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm cho rằng: “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình.” 11 Các quan niệm trên đây có sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi, nhưng có những nét tương đồng về nội dung. Từ đó, có thể đưa ra một quan niệm tổng quát sau đây về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đã hoá lợi ích, đối với người sản xuất – kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi Cạnh tranh của ngân hàng thương mại là sự ganh đua giữa các ngân hàng thương mại về sản phẩm dịch vụ cung ứng để tồn tại và phát triển mở rộng thêm thị phần, nâng cao uy tín và lợi thế của ngân hàng trên thương trường nhằm mục tiêu gia tăng thêm nhiều lợi nhuận.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến nhưng vẫn chưa có sự thống nhất, thể hiện ở một số điểm: Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, duy trì và mở rộng thị phần so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của doanh nghiệp Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997) định nghĩa năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động.