Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Tuyên Quang. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Tuyên Quang. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái quát về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Theo Hoàng Phê (2019), “Cạnh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Theo Nguyễn Quốc Dũng (2001), “Cạnh tranh được hiểu là Quá trình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp - cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là nhằm chiếm l nh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, tiêu thụ hàng hóa có lợi nhất”. Từ những quan điểm trên có thể cho rằng: “Cạnh tranh là hoạt động thường xuyên, liên tục của các chủ thể trong đời sống xã hội thông qua các hành động, dùng mọi biện pháp bao để đạt mục tiêu của mình đã đề ra”.
Năng lực cạnh tranh là yếu tố quan trọng tạo ra những lợi thế cho các chủ thể trong quá trình mở rộng và phát triển quy mô, thị phần và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đối với NHTM cũng vậy, năng lực cạnh tranh luôn được quan tâm và thường xuyên được nâng cao. Theo Nguyễn Thị Quy (2005, tr.36), “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình của nghành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh” Năng lực cạnh tranh của NHTM được tập hợp bởi các năng lực cạnh tranh của các NHTM. Điều đó có nghĩa rằng, tập hợp năng lực cạnh tranh của chi nhánh tạo ra năng lực cạnh tranh của NHTM và ngược lại năng lực cạnh tranh của một NHTM trước hết là NLCT của ngân hàng mẹ, bởi vì, theo luật pháp kinh doanh 9 cũng như thông lệ quốc tế, pháp nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật và xã hội về các hành vi kinh doanh trước hết và duy nhất là ngân hàng mẹ.
Tuy nhiên, trong điều kiện mở rộng kinh doanh, các NHTM có thể lập các chi nhánh và trao quyền tự chủ nhất định cho các chi nhánh đến mức có thể hình thành NLCT của chi nhánh. Đối với NHTM, các sản phẩm mang tính đặc thù (kinh doanh hàng hóa đặc biệt là tiền tệ), NLCT mang tính đặc thù. Chúng ta có thể hiểu, NLCT của NHTMlà thể hiện thực lực và lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tối đa các yêu cầu của khách hàng để thu được lợi nhuận của một NHTM. NLCT không phải là một chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu yếu tố cấu thành.
Đây là yếu tố nội hàm của ngân hàng, không chỉ được tính bằng các chỉ tiêu về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị ngân hàng, chiến lược kinh doanh, Marketing. một cách riêng biệt mà cần phải đánh giá, so sánh những điểm mạnh và điểm yếu bên trong ngân hàng cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường hay địa bàn. Trên cơ sở so sánh đó, muốn tạo nên NLCT, đòi hỏi ngân hàng, NHTM phải tạo lập được lợi thế so sánh với các đối thủ của mình. Nhờ lợi thế này, ngân hàng có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh về mình, mở rộng thị trường dịch vụ nhằm thu lợi nhuận cao và bền vững.
Trong luận văn, tác giả thống nhất khái niệm về năng lực cạnh tranh chi NHTM như sau: Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng dựa vào lợi thế nguồn nhân lực, hiện đại hóa công nghệ về trang thiết bị, hệ thống quy trình nghiệp vụ và mô hình tổ chức quản quản lý để kinh doanh ổn định vững chắc về: Nguồn vốn, dư nợ và dịch vụ… để đạt mục tiêu cuối cùng là an toàn và hiệu quả mà NHTM đã đặt ra. Đặc điểm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt là tiền tệ nên cạnh tranh giữa các NHTM có nét đặc trưng riêng và phụ thuộc vào phân cấp phân quyền 10 của ngân hàng mẹ. Do vậy, NLCT của NHTM có những đặc điểm sau (Nguyễn Kim Thài, 2012): Một là, NHTM là một bộ phận của NHTM. Do đó, năng lực cạnh tranh của NHTM chịu ảnh hưởng trực tiếp từ năng lực cạnh tranh của NHTM mẹ.
Theo đó, nếu NHTM mẹ có năng lực cạnh tranh tốt sẽ tạo ra lợi thế giúp cho NHTM có năng lực cạnh tranh tốt và ngược lại. Hai là, năng lực cạnh tranh của NHTM phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm tình hình kinh tế xã hội, dân cư của địa phương. Trên thực tế, tình hình kinh tế xã hội của từng địa phương sẽ tác động đến số lượng các NHTM tại địa phương đó. Nếu kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ, số lượng dân cư đông đúc cùng với đó là thu nhập bình quân đầu người tăng thì số lượng NHTM trên địa bàn càng gia tăng.
Sự cạnh tranh giữa các NHTM càng gay gắt, điều này đòi hỏi các NHTM cần phải cải thiện năng lực cạnh tranh để đảm bảo vị thế của mình tại địa phương và ngược lại. Ba là, các NHTM vừa cạnh tranh khốc liệt với nhau nhưng vừa hợp tác chặt chẽ với nhau, không thôn tính hay triệt tiêu nhau mà cùng nhau hướng tới một môi trường kinh doanh ổn định, an toàn hệ thống và hạn chế rủi ro để tạo nên thị trường tiền tệ lành mạnh. Đây là đặc điểm riêng, nổi bật nhất phân biệt cạnh tranh trong ngành ngân hàng với cạnh tranh của các ngành khác. Các NHTM một mặt luôn cạnh tranh gay gắt với nhau để giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị phần, tăng thu nhập và lợi nhuận, mặt khác lại luôn phải hợp tác chặt chẽ với nhau, cùng nhau tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn để tránh rủi ro hệ thống.
Bốn là, NHTM không chỉ bị điều chỉnh theo luật doanh nghiệp mà còn phải theo luật ngân hàng và cạnh tranh nhau trong môi trường được giám sát chặt chẽ bởi chi nhánh NHNN trên địa bàn đó. Năm là, cạnh tranh của các NHTM rất nhạy cảm với biến động của môi trường kinh doanh. Kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh vô cùng nhạy cảm với môi trường inh doạnh. Mỗi sự thay đổi của một yếu tố về chính trị, xã hội, kinh tế, tâm lý… dù rất nhỏ cũng sẽ tác động và lan truyền rất nhanh chóng, làm ảnh hưởng 11 đến hoạt động của các NHTM.
Ví dụ, sự khủng hoảng thừa của ngành sắt thép hay xi măng sẽ ảnh hưởng đến ngành xây dựng và kinh doanh của các doanh nghiệp trở nên kkhó khăn hơn và tác động trực tiếp đến NHTM do công nợ phải thu, phải trả…. Do đó, các ngân hàng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, bằng mọi thủ đoạn để làm suy yếu và thôn tính đối thủ cạnh tranh lẫn nhau. Vai trò năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Năng lực cạnh tranh của NHTM đóng một vai trò rất quan trọng điều này được thể hiện cụ thể như sau (Nguyễn Kim Thài, 2012): - Năng lực cạnh tranh của NHTM tạo ra lợi thế cho NHTM trong các hoạt động kinh doanh, thu hút được khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng, từ đó nâng cao lợi nhuận của chi nhánh và hiệu quả kinh doanh của NHTM trên địa bàn hoạt động. Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của NHTM sẽ góp phần làm gia tăng năng lực cạnh tranh của NHTM mẹ.
- Năng lực cạnh tranh của NHTM tạo ra một môi trường cạnh tranh giữa các NHTM trên địa bàn, từ đó thúc đẩy các NHTM phải cải tiến chất lượng dịch vụ khách hàng cũng như cung cấp đến với khách hàng các sản phẩm có tính ưu việt nhất. Do đó, năng lực cạnh tranh của NHTM mang đến nhiều lợi ích cho các khách hàng tại địa phương. - Để cải thiện năng lực cạnh tranh của NHTM sẽ giúp cho các NHTM tích cực hơn trong các hoạt động cộng đồng tại địa phương, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Nội dung và chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại 1.
Nội dung đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Năng lực tài chính Năng lực tài chính là chìa khóa, là phương tiện để biến các ý tưởng trong kinh doanh thành hiện thực. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ góp phần quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, chính vì vậy bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ, dù to hay bé thì đều quan tâm đến năng lực tài chính và vấn đề nâng cao hiệu 12 quả sử dụng vốn. Vì vậy, năng lực tài chính được xem là cốt lõi của năng lực cạnh tranh.
Năng lực tài chính dưới góc độ một NHTM được đo lường bằng một số tiêu chí cơ bản sau: - Nguồn vốn huy động quyết định tới quy mô và chiến lược kinh doanh, là cơ sở để NHTM thực hiện các khoản đầu tư cho vay ngắn, trung hay dài hạn. Khi xem xét đến nguồn vốn huy động, cần xem xét đến cơ cấu nguồn vốn theo đối tượng, kỳ hạn và mức độ ổn định của nguồn vốn. - Dư nợ tín dụng là khoản đầu tư cho vay của NHTM đối với các tổ chức và cá nhân với thời gian và lãi suất nhất định. Do vậy, NHTM thường sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản như cơ cấu cho vay; Tốc độ tăng trưởng đầu tư cho vay là mức so sánh giữa mức tăng dư nợ ở các thời kỳ kế tiếp nhau.
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng cao hay thấp phụ thuộc vào từng NHTM qua từng thời kỳ do nhu cầu hay gia tăng phát sinh nợ xấu.