Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn tại các ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và 11 phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam II. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam II. 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm huy động vốn Ngân hàng thƣơng mại Vốn huy động của NHTM là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động đƣợc trên thị trƣờng thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn vốn khác. Bộ phận vốn huy động có ý nghĩa quyết định khả năng hoạt động của mỗi NHTM. Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn (tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn (tiền gửi không kỳ hạn).Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.
Huy động vốn là nghiệp vụ cơ ản, có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập nguồn vốn thƣờng xuyên để NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh. Huy động vốn là quá trình ngân hàng sử dụng các công cụ, phƣơng thức và biện pháp thích hợp để thu hút các nguồn tài chính trong xã hội. Vốn huy động luôn biến động, nên ngân hàng không đƣợc phép sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Nhƣ vậy, huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn tiền gửi nhàn rỗi từ nền kinh tế thông qua các hình thức huy động tiền gửi thanh toán, tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá và các hình thức khác để tạo nguồn vốn cho NHTM (tác giả tự tổng hợp).
Vai trò của huy động vốn Ngân hàng thƣơng mại - Vốn huy động là cơ sở để NHTM tổ chức hoạt động kinh doanh: Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh đƣợc thì phải có vốn, đặc biệt phải huy động đƣợc một lƣợng vốn mới, bởi vì vốn huy động phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Điều đó có nghĩa là: Vốn không chỉ là phƣơng tiện 13 kinh doanh chính mà là kinh doanh chủ yếu của NHTM, nếu không có vốn ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh. - Vốn huy động quyết định đến quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của Ngân hàng: Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ mang tính chất đặc thù của các NHTM.
Hoạt động tín dụng cần một khối lƣợng vốn lớn, ổn định và có chi phí thấp. Chỉ có huy động vốn mới đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó. Vốn tự có có tính chất ổn định cao song không phải ngân hàng nào cũng có một khối lƣợng vốn tự có lớn để đáp ứng nhu cầu bên tài sản có. Vốn đi vay không ổn định mà chi phí vốn lại cao hơn so với huy động vốn từ dân cƣ và các tổ chức xã hội.
Thông thƣờng, các Ngân hàng nhỏ thƣờng có các khoản mục đầu tƣ và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi khối lƣợng cho vay cũng nhỏ hơn so với các ngân hàng lớn. Thêm vào đó, do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén với sự biến động về lãi suất, gây ảnh hƣởng đến khả năng thu hút vốn đầu tƣ từ các thành phần kinh tế. Trong khi đó, ngân hàng có quy môn vốn lớn thì khả năng cho vay cũng tốt hơn, có nhiều điều kiện hơn trong việc mở rộng các loại hình dịch vụ ngân hàng, đầu tƣ công nghệ, nâng cao chất lƣợng phục vụ, tăng khả năng thu hút các khách hàng lớn, góp phần mở rộng thị trƣờng tín dụng và các dịch vụ khác. - Vốn huy động quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị trƣờng: Trong nền KTTT, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các ngân hàng phải đặc biệt coi trọng uy tín.
Uy tín đƣợc thể hiện trƣớc hết ở khả năng thanh toán, sẵn sàng chi trả cho khách hàng khi có nhu cầu. Do đó, đòi hỏi ngân hàng phải có tính chủ động cao đối với nguồn vốn của mình. Nguồn vốn tự huy động càng lớn, ngân hàng càng nắm đƣợc ƣu thế trong việc sử dụng vốn và khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao và ngƣợc lại. - Vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng: Để nâng cao năng lực cạnh tranh đòi hỏi ngân hàng phải tiến hành nhiều giải pháp mang tính đồng bộ nhƣng không ngừng nâng cao chất lƣợng phục vụ, đội ngũ cán ộ, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng.
Để thực hiện đƣợc các biện pháp đó đòi hỏi ngân hàng phải có một lƣợng vốn lớn. Mặt khác, khả năng huy động vốn lớn là điều kiện thuận 14 lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế. Chính điều này sẽ giúp Ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng, qua đó làm cho doanh thu của Ngân hàng tăng lên, ổ sung thêm nguồn vốn cho Ngân hàng, từ đó mở rộng quy mô hoạt động, tăng cƣờng cơ sở vật chất, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng. HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm hiệu quả huy động vốn Ngân hàng thƣơng mại Theo từ điển Tiếng Việt “hiệu quả là kết quả thực của việc làm mang lại”, Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, Kinh tế lƣợng Anh – Việt thì hiệu quả đƣợc định nghĩa là “mối quan hệ tƣơng quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ và khái niệm hiệu quả đƣợc dùng để xem xét các tài nguyên đƣợc các thị trƣờng phân phối tốt nhƣ thế nào. Nhƣ vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng đạt đƣợc trong việc phân ổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó”. Nhà kinh tế học ngƣời Anh, Adam Smith, cho rằng: Hiệu quả là kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá (Kinh tế thƣơng mại dịch vụ - Nhà xuất bản Thống kê 1998). Theo quan điểm này của Adam Smith đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm này là kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng lên do chi phí sản xuất tăng hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu với cùng một kết quả sản xuất kinh doanh có hai mức chi phí khác nhau thì quan điểm này cũng có hiệu quả và chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất. Nhƣ vậy, xuất phát từ khái niệm ản chất hiệu quả chính là sự so sánh giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí bỏ ra. Khi so sánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dƣới dạng thƣơng số, hoặc kết quả/chi phí hoặc chi phí/kết quả.
Mỗi cách so sánh đó đều cung cấp các thông tin có ý nghĩa khác nhau. Nhƣ vậy hiệu quả đạt đƣợc khi có kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí hợp lý nhất. Tuy nhiên, đôi khi 15 vì muốn đạt đến một mục tiêu nhất định trong một kỳ mà ngƣời quản lý có thể chấp nhận một mức chi phí cao hơn, do đó hiệu quả của hoạt động huy động vốn có thể đo lƣờng không chỉ dựa trên tƣơng quan kết quả và chi phí, mà còn có thể đánh giá theo góc nhìn khác ví dụ nhƣ hoạt động huy động vốn có đáp ứng đƣợc mục tiêu kinh doanh trong kỳ, các loại vốn huy động có cơ cấu hợp lý hay không… Để hoạt động kinh doanh đạt đƣợc lợi nhuận cao, các ngân hàng phải đảm bảo cho các hoạt động đạt đƣợc hiệu quả. Huy động vốn là một hoạt động kinh doanh của NHTM, hiệu quả trong huy động vốn góp phần quan trọng trong hoạt động ngân hàng nói chung và việc tạo nên lợi nhuận nói riêng.
Là một hoạt động kinh doanh nên có thể hiểu hiệu quả huy động vốn với ngân hàng là mối tƣơng quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu đƣợc. Hiệu quả này càng cao khi kết quả đạt đƣợc càng cao và chi phí bỏ ra càng thấp. Hiệu quả huy động vốn góp phần quan trọng tạo nên lợi nhuận ngân hàng, tạo sự ổn định của nguồn vốn, thúc đẩy tăng trƣởng và hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Tóm lại, hiệu quả huy động vốn của NHTM là khả năng đáp ứng một cách kịp thời, nhanh chóng, đầy đủ, thường xuyên nhu cầu sử dụng vốn cho hoạt động của một ngân hàng cả về số lượng và cơ cấu sử dụng với chi phí hợp lý và hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra.
Các ch tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn NHTM 1. Chỉ tiêu định lượng a) Quy mô nguồn vốn huy động Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) đề cập trong Nghiệp vụ ngân hàng thƣơng mại: Quy mô nguồn vốn huy động là chỉ tiêu phản ánh số lƣợng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Với quy mô nguồn huy động ngày càng tăng sẽ hỗ trợ vốn cho ngân hàng hoạt động, phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động của mình, quy mô cũng tạo điều kiện nâng cao tính thanh khoản, tính ổn định và tăng niềm tin của khách hàng. Nguồn vốn huy động có quy mô khác nhau theo từng giai đoạn.
Các ngân hàng có quy mô lớn thì thƣờng có ƣu thế huy động hơn các ngân hàng quy mô nhỏ. Trong 16 tình hình cạnh tranh về thị phần khách hàng, lãi suất thƣờng không có sự khác iệt nhiều giữa các ngân hàng, do vậy khách hàng thƣờng lựa chọn các ngân hàng có quy mô lớn để đảm bảo tính an toàn, thanh khoản cho khoản tiền gửi của mình.