phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 nội dung chính đƣợc chia làm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động bảo lãnh tại ngân hang thƣơng mại. Thực trạng hoạt động phát triển bảo lãnh tại NHCT chi nhánh Hai Bà Trƣng. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng thƣơng mại.1 Những vấn đề cơ bản hoạt động bảo lãnh ngân hàng 1.1 Khái niệm và đặc điểm 1.1 Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh Theo quan niệm Marketing, sự ra đời của một sản phẩm dịch vụ mới thƣờng bắt nguồn từ ba nhân tốt là phát sinh nhu cầu, khả năng cung ứng dịch vụ và sự cho phép của luật pháp. Xét với sự ra đời của bảo lãnh ngân hàng: Sự phát sinh nhu cầu bảo lãnh: Chính sự phát triển của nền kinh tế mà ở đây là sự phát triển của thƣơng mại và tín dụng đã làm nảy sinh xuất hiện các nhu cầu mới Về thƣơng mại: Xã hội loài ngƣời đã trải qua các hình thức sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hòa. Sản xuất hàng hóa ra đời tạo ra bƣớc nhảy vọt trong đời sống, kinh tế và tạo điều kiện thúc đấy sự phát triển của thƣơng mại. Thƣơng mai ra đời từ sự phân công lao động xã hôi, chuyên môn hóa sâu và lợi tế so sánh giữa các vùng, các quốc gia, các doanh nghiệp.
Khi nền kinh tế phát triển thì thƣơng mại phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu đặc biệt với xu hƣớng hòa nhập tham gia vào phân công lao động khu vực và thế giới. Sự phát triển của thƣơng lại làm tăng số lƣợng, giá trị và tốc độ các giao dịch của doanh nghiệp làm các giao dịch vƣợt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia Về tín dụng: tín dụng ra đời do nhu cầu chu chuyển vốn trong nền kinh tế giữa những nơi thừa và thiếu tƣơng đối. Thƣơng mại phát triển kéo theo sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực. Để đổi mới sản phẩm, công nghệ nhằm đáp ứng thị trƣờng thì vốn trở nên cực kỳ quan trọng.
Tín dụng khi đó không chỉ bao gồm quan hệ cung ứng vốn giữa các tổ chức trong một nƣớc mà còn giữa các nƣớc, các khu vực trên nhiều lĩnh vực nhƣng chủ yếu là thƣơng mại với nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và một phần lãi nhất định. Sự phát triển của thƣơng mại và tín dụng dẫn tới: Sự thiếu hụt thông tin và do đó là sự thiếu tín nhiệm bạn hàng: giao dịch diễn ra với đặc điểm tăng về số lƣợng, phức tạp hơn trong thời gian dài và trên phạm vi toàn cầu. Quá trình kinh doanh diễn ra với tốc đọ chóng mặt do vậy trong cùng một lúc doanh nghiệp phải giao dịch với nhiều bạn hàng khác nhau. Họ thiếu thông tin về bạn hàng cũng nhƣ đối thủ cạnh tranh, sự thiếu hụt thông tin có thể dẫn tới rủi ro về đạo đức do bạn hàng không đáp ứng đƣợc các hợp đồng đã ký kết hoặc nếu họ có thể tìm hiểu đƣợc thông tin thì chỉ việc tranh thủ cơ hội kinh doanh và các chi phí phải bỏ ra ngăn cản họ thực hiện điều này.
Mâu thuẫn nảy sinh đó là sự thiếu hiểu biết về nhau làm các đối tác không có đủ độ tín nhiệm cần thiết để ký hợp đồng. Tăng các rủi ro trong kinh doanh: một doanh nghiệp trong kinh doanh phải gánh chịu rủi ro về lãi suất, tỉ giá, cạnh tanh, các rủi ro bất khả kháng…rủi ro có thể gây ra những hậu quả không lƣờng trƣớc đƣợc cho doanh nghiệp. Theo cơ chế lam truyền các rủi ro này còn cảnh hƣởng tới cả các doanh nghiệp khác cùng thực hiện hợp đồng. Kiểm soát rủi ro là việc đặc biệt khó khăn nhất là các rủi ro lan truyền từ phía đối tác, vì vậy khi cạnh tranh bị đẩy tới mức độ gay gắt, các doanh nghiệp đều phải tận dụng cơ hội để vƣợt lên đối thủ bằng cách giảm thiểu tối đa rủi ro.
Nhƣ vậy từ bản thân nền kinh tế xuất hiện nhu cầu cần có công cụ ngăn ngừa rủi ro từ đối tác, khắc phục tình trạng thiếu hụt thông tin làm các bên yên tâm thực hiện giao dịch. Về mặt thanh toán các rủi ro đã đƣợc kiểm soát bởi các hình thức tính dụng chứng từ, bảo đảm hồi phiếu…còn các rủi ro về không thực hiện đơn thuần là nghĩa vụ trong thực hiện hợp đồng, nó là cơ sở ra đời của một công cụ mới, bảo lãnh. Khả năng cung ứng: nhu cầu bảo lãnh này đòi hỏi một ngƣời thứ ba đứng ra làm trung gian, bảo đảm giúp cho các bên không gặp bất cứ vƣớng mắc nào khi tham gia ký kết hợp đồng. Ngân hàng thƣơng mại một trung gian tài chính có các điều kiện phù hợp cho bảo lãnh nhƣ sau: Có khả năng đảm bảo về tài chính, có uy tín trong kinh doanh tiền tệ.
Chuyên cung cấp các dịch vụ trung gian tài chính cho nền kinh tế. Có khả năng nắm bắt, thu thập thông tin do có mạng lƣới khách hàng và đội ngũ cán bộ chuyên môn. Ngân hàng thƣơng mại hoàn toàn có khả năng cung ứng dịch vụ này thỏa mãn nhu cầu nền kinh tế. Mặt khác nếu tiếp cận theo các hình thức tín dụng ngân hàng thì có thể coi bảo lãnh là một loại hình tín dụng đặc biệt, tín dụng chữ ký.
Sự phát triển các hình thức tín dụng ngân hàng có thể kể tới là: Tín dụng thông thƣờng: đó là việc ngân hàng trực tiếp phát tiền cho vay theo ngƣời tắc hoàn trả vốn và một khoản lãi nhất định. Đây là hình thức tín dụng truyền thống và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các hoạt động sử dụng vố của hầu hết các ngân hàng. Tín dụng chữ ký: là việc khách hàng phát hành một hối phiếu trong đó ngân hàng đóng vai trò là ngƣời thụ lệnh. Khách hàng dùng hối phiếu này chiếtt khấu ở ngân hàng khác để nhận tiền.
Trƣớc khi hối phiếu này đến hạn thanh toán, khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng để ngân hàng chi trả cho ngân hàng chiết khấu. Trong quan hệ này ngân hàng cho mƣợn uy tín của mình để khách hàng đƣợc vay vốn. Tín dụng chứng từ: ngân hàng cấp tín dụng chứng từ cho khách hàng là ngƣời nhập khẩu, ngƣời thụ hƣởng là ngƣời xuất khẩu nƣớc ngoài. Với hình thức này ngân hàng cam kết trả tiền khi ngƣời xuát khẩu giao hàng và xuất trình những giấy tờ đúng theo cam kết trong thƣ tín dụng.
Bảo lãnh ngân hàng cũng đƣợc coi là một hình thức tín dụng bằng chữ lý. Ngân hàng không phải xuất vốn ngay mà chỉ phát hành thƣ bảo lãnh bảo đảm chi trả cho ngƣời thụ hƣởng nếu ngƣời đƣợc ngân hàng bảo lãnh vi phạm hợp đồng ký kết với ngƣời thụ thƣởng. Về pháp luật: ở một số nƣớc bảo lãnh đƣợc thực hiện bởi các công ty bảo hiểm nhƣ ở Mỹ và Canada. Song phần lớn các quốc gia trên thế giới nghiệp vụ này ngân hàng thực hiện.
Nhƣ vậy sự ra đời và tồn tại của bảo lãnh ngân hàng là khách quan và cần thiết. Bảo lãnh là nghiệp vụ ngân hàng hiện đại xuất hiện ở thị trƣờng nội địa nƣớc Mỹ vào những năm 60 và bắt đầu tham gia vào các giao dịch quốc tế vào những năm 70. Tại thời điểm này khi các hợp đồng ký kinh tế lớn giữa các nƣớc phƣơng Tây với các quốc gia thịnh vƣợng ở Trung Đông liên tục đƣợc ký kết nhƣng các quốc gia ở Trung Đông với thế mạnh về tái chính cần có một sự đảm bảo chắc chắn về phía đối tác khi tham gia giao dịch, vì vậy những bảo lãnh độc lập đƣợc phát hành bởi ngân hàng của các nƣớc phƣơng Tây đã đáp ứng đƣợc yêu cầu về sự an toàn và thuận tiện cho các bên tham gia. Cho tới nay, có thể khẳng định tầm quan trọng của bảo lãnh ngân hàng đƣợc thể hiện trong hầu hết những giao dịch lớn trong phạm vi quốc tế cũng nhƣ nội địa về cái lĩnh vực tài chính, phi tài chính, thƣơng mại lẫn phi thƣơng mại.
Tại Việt Nam vào đầu những năm 90, khi nền kinh tế bắt đầu hội nhập với nền kinh tế thế giới và các nƣớc trong khu vực, các hoạt động ngân hàng phát triển rất mạnh mẽ, đa dạng và phong phú trong đó nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đƣợc phát triển nhƣ một tất yếu khách quan. Nhƣng do thiếu sự chỉ đạo thống nhất bằng những văn bản pháp lý chặt chẽ nên các hoạt động bảo lãnh trong thời kỳ này chƣa đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn. Để cải thiện tình trạng này Thống đốc ngân hàng Nhà nƣớc ban hành Quyết định 192/NH-QĐ về bảo lãnh, tái bảo lãnh hay vốn nƣớc ngoài nhằm đƣa hoạt động bảo lãnh đi vào kỷ cƣơng thống nhất. Tuy nhiên do nội dung của văn bản này chỉ tập trung vào một phạm vi hẹp là quan hệ vay nợ với ngƣớc ngoài nên chƣa thực sự đáp ứng đƣợc đồi hỏi thời điểm thực tế.
Tiếp tục sau đó quyết định 196/QĐ-NH12 đƣợc ban hành đã tạo ra đƣợc một cơ chế pháp lý tƣơng đối hoàn chỉnh cho nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Ngày 26/06/2006 Thống đốc Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam đã ban hành quyết định 26/2006/QĐ-NHNN về quy chế bảo lãnh thay thế các quy chế trƣớc đây. Hơn nữa, kể từ năm 2007 khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới, xu hƣớng mở rộng quan hệ kinh tế trong và ngoài nƣớc thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam với các hình thức ngày càng đa dạng cùng doanh số ngày càng cao cho thấy tiềm năng phát triển của dịch vụ này trong điều kiện kinh tế của nƣớc ta là rất lớn.2 Khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng Theo Ðiều 361 bộ luật dân sự 2005: “Bảo lãnh là việc ngƣời thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên đƣợc bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên đƣợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên đƣợc bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.