CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của du lịch trong phát triển Kinh tế - Xã hội 1. Một số khái niệm - Khái niệm về du lịch Du lịch là một hoạt động tương tác giữa con người với tự nhiên ngoài môi trường sinh sống định cư, nhằm mục đích tham quan, tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm. Có thể định nghĩa một cách ngắn gọn: Du lịch là hình thức nghỉ ngơi năng động ngoài môi trường định cư.
Đặc điểm của du lịch 1. Du lịch vừa là kinh tế, văn hoá tinh thần 1. Du lịch gắn với điều kiện thiên nhiên, khí hậu, phong tục tập quán. Sản phẩm và dịch vụ du lịch được hình thành từ nhiều yếu tố 1.
Ý nghĩa của phát triển du lịch đối với kinh tế - xã hội - Ngành du lịch phát triển là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân như: ngành nông nghiệp, ngành sản xuất vật tư xây dựng, ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, ngành tiểu thủ công nghiệp… - Phát triển du lịch quốc tế chủ động đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước. Ở các nước du lịch phát triển, nguồn thu ngoại tệ từ du lịch quốc tế chiếm đến 20% trong tổng nguồn thu ngoại tệ của đất nước. - Ngoài ra, du lịch được xem là ngành xuất khẩu tại chỗ đem lại hiệu quả kinh tế cao. Điều kiện phát triển du lịch 1.
Lựa chọn tầm nhìn phát triển du lịch - Ban hành các văn bản pháp luật về du lịch, xây dựng và thực hiện hàng loạt các chính sách kinh tế lớn để phát triển du lịch và xây dựng một cơ chế có hiệu lực để đưa chính sách và thể chế quản lý vào hoạt động kinh doanh du lịch. - Tổ chức hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các văn bản luật, các quy chế, các chế độ, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, quy trình quy phạm iii trong hoạt động du lịch. - Tăng cường tổ chức tuyên truyền quảng cáo du lịch, tăng cường ứng dụng khoa học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hợp tác quốc tế, bảo vệ môi trường du lịch. - Giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động du lịch, thúc đẩy du lịch CHDCND Lào theo định hướng chung của đất nước, hạn chế và xoá bỏ các hiện tượng không lành mạnh 1.
Đầu tư kết cấu hạ tầng - Đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng nhằm đảm bảo nơi ăn, chốn ở, hệ thống giao thông, phương tiện đi lại cho khách du lịch. - Đầu tư vào mạng lưới bán hàng: đây là một trong các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch quan trọng nhất để tạo được thu nhập cho địa phương và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch về mua sắm, bằng việc bán các hàng hoá đặc trưng của địa phương mình, của đất nước mình, hàng thực phẩm và các hàng hoá khác. - Đầu tư vào cơ sở thể thao: là bộ phận của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách. - Đầu tư về y tế: nhằm mục đích phục vụ du khách chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại điểm du lịch.
- Đầu tư vào công trình phục vụ văn hoá thông tin: bao gồm các trung tâm văn hoá thông tin, phòng chiếu phim, câu lạc bộ, phòng triển lãm, internet, phòng đọc sách. - Đầu tư giao thông vận tải bao gồm đường bộ, đường hàng không, đường sông. Mạng lưới giao thông phát triển tạo điều kiện khai thác tối đa tiềm năng du lịch của một vùng, một địa phương, một đất nước. - Đầu tư vào cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác 1.
Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch 1. Xây dựng chiến lược phát triển du lịch 1. Hoạt động quảng bá thương hiệu và khuyến khích phát triển du lịch 1. Các yếu tố tác động đến phát triển du lịch 1.
Tài nguyên du lịch và thời tiết, khí hậu 1. Giá của sản phẩm 1. Sự đa dạng và hấp dẫn của các sản phẩm du lịch 1. Kết cấu hạ tầng cho phát triển du lịch và sự an toàn của điểm đến 1.
Chính sách phát triển du lịch 1. Kinh nghiệm của một số tỉnh ở Lào và ở Việt Nam về phát triển du lịch iv 1. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số tỉnh ở Lào 1. Kinh nghiệm của tỉnh Luông Pha Băng (di sản thế giới) 1.
Kinh nghiệm phát triển du lịch Cánh Đồng Chum Xiêng Khoảng 1. Kinh nghiệm phát triển du lịch một số tỉnh của Việt Nam 1. Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh 1. Kinh nghiệm của tỉnh Hà Tĩnh 1.
Bài học rút ra cho tỉnh Viêng Chăn - Thứ nhất, cần có chiến lược dựa trên tầm nhìn dài hạn và quy hoạch phát triển cụ thể về du lịch của tỉnh - Thứ hai, vai trò của chính quyền địa phương, của sở chuyên ngành đặc biệt quan trọng trong việc tạo lập những tiền đề cần thiết cho phát triển du lịch. - Thứ ba, tăng cường quản lý nhà nước đối với du lịch. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở TỈNH VIÊNG CHĂN, LÀO 2. Điều kiện phát triển du lịch tỉnh Viêng Chăn 2.1 Giới thiệu tỉnh Viêng Chăn Tỉnh Viêng Chăn được thành lập ngày 20/8/1981, từ một phần của thủ đô Viêng Chăn và một phần của các tỉnh láng giềng khác.
Tỉnh Viêng Chăn là một đơn vị cấp tỉnh của nước CHDCND Lào. Tỉnh Viêng Chăn là một tỉnh nông nghiệp, có 2 diện tích 22.554,48 km , phần lớn là vùng núi và núi đá (chiếm 2/3 diện tích); đồng bằng chỉ chiếm 1/3 diện tích của toàn tỉnh. Tỉnh Viêng Chăn phía bắc giáp với tỉnh Luang Pra Bang, phía nam giáp với thủ đô Viêng Chăn, phía đông giáp với tỉnh Xiêng Khoảng và Bolykhamxay; phía Tây giáp với tỉnh Sayabouly và tỉnh Lơi (Thái Lan). Tỉnh Viêng Chăn là một tỉnh nông thôn, có diện tích phần lớn là núi, núi đá chiếm 80% diện tích của tỉnh.
Đất trồng trọt chỉ nằm hai bên bờ sông Năm Ngưm. Tiềm năng đất đai của tỉnh chưa được khai thác, kết cấu hạ tầng vẫn còn nghèo nàn. Các điều kiện phát triển du lịch tỉnh Viêng Chăn 2. Điều kiện tự nhiên Tỉnh Viêng Chăn nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm.
Nhiệt độ cao nhất trong năm là 34-39o C , thấp nhất trong năm từ 18-12o C. Lượng mưa bình quân hàng năm là 2. v Tỉnh Viêng Chăn hiện nay có 13 huyện, 504 bản làng. Theo số liệu tổng điều tra dân số của Sở Kế hoạch và Đầu tư thì dân số tỉnh Viêng Chăn là 480.533 2 người (năm 2012), mật độ dân số là 2.131 người/km.
Tỉnh Viêng Chăn 04 dân tộc người chính là: Lào Lum, Kha mu, H'Mông, dân tộc E Miến và một số ít khác là người nước ngoài, Cư dân của tỉnh Viêng Chăn có cơ cấu phức tạp, có quá trình lịch sử phát triển rất lâu dài, đa dạng về ngôn ngữ, phong tục tập quản, tôn giáo, tín ngưỡng. Phần lớn cư dân tỉnh Viêng Chăn từ miền Bắc di chuyển xuống.2 Điều kiện tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch tự nhiên Một trong những địa điểm tham quan đặc sắc của tỉnh Viêng Chăn đó là đầm Blue Lagoon. Đầm xanh biếc nằm cách trung tâm tỉnh Viêng Chăn khoảng 37 km nên du khách dễ dàng đến đây bằng xe tuk tuk hoặc xe đạp, phương tiện công cộng. Quần thể thiên nhiên này gồm các đầm phá khá sâu với dòng nước xanh biếc tự nhiên.
Du khách đến đây sẽ hòa mình vào không gian thiên nhiên đẹp như tuyệt tác với thác nước nhỏ nhiều tầng nằm giữa đồi núi xanh ngắt. Địa hình độc đáo của đầm Blue Lagoon khiến dịch vụ các trò chơi mạo hiểm phát triển mạnh. Người Lào và du khách tham quan thường trải nghiệm ngồi ghế treo đung đưa, nhảy nhào lộn từ trên cao hoặc đu dây zipline (Mạo hiểm), đầy phiêu lưu. Trước khi đến đầm xanh này, khách còn có thể tham quan quần thể động Poukham mênh mông xung quanh với sông núi hài hòa.
Có rất nhiều hang động trong tỉnh Viêng Chăn, đặc biệt là ở khu vực Văng Viêng. Đáng chú ý là các hang Patang, Patho Nokham, Vangxang và Tham Jang. Hang Vangxang, còn gọi là Elephant Court Về tài nguyên sinh vật, tỉnh Viêng Chăn có các khu bảo tồn với tài nguyên Rừng xanh, rừng rụng lá hỗn giao Shorea, rừng khô dipterocarp và rừng thông; đặc biệt là rừng lá kim, các loại cá thể đơn loài gồm Pinus merkusii, Fokienia hodgsonsii, bamboo (mai sanod), và đồng cỏ tạo lập bởi các khu rừng bị cháy. Tài nguyên văn hoá Sau những giờ hoạt động thể thao tích cực, khách du lịch Văng Viêng có thể nhàn nhã đạp xe dọc sông, tĩnh lặng câu cá hay nằm đọc sách trên những chiếc võng.
Khi hoàng hôn buông xuống, Văng Viêng trở nên nhộn nhịp, sầm uất hơn với khu phố Tây tràn ngập du khách. Du khách đến đây để mua đủ thứ hàng hóa, quà lưu niệm, hay bất cứ dịch vụ gì với mức giá hợp lý và khám phá văn hóa của người dân bản địa qua vi những món ăn dân dã. Để khám phá cách sinh sống và phong tục tập quán của bà con nhân dân tỉnh Viêng Chăn, du khách có thể thuê xe đạp hoặc motor để tự đi vào các bản làng của người Lào Sủng, Lao Thơng, xem cách dệt lụa tơ tằm và có thể mua làm kỷ niệm một vài tấm do những người phụ nữ Lào tự tay dệt. Khi du ngoạn dưới bóng mát của các tán cây trong khu rừng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những chùm phong lan hoàng thảo rừng la đà trên các cành cây cổ thụ, hoặc cũng có thể gặp bà con dân tộc Lào đi làm với gùi hàng trên lưng, nhưng vẫn tự nhiên tạo dáng cho các du khách nước ngoài chụp ảnh.
Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Viêng Chăn 2. Hiện trạng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng để phục vụ du lịch Cơ sở vật chất ngành du lịch của tỉnh Viêng Chăn đã và đang phát triển nhanh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Năm 2020, tỉnh Viêng Chăn có 1.012 cơ sở lưu trú du lịch đang hoạt động, trong đó có 90 khách sạn, với tổng số 2.496 phòng và 4.188 giường; nhà nghỉ có 920 nhà bao gồm 6.152 phòng và 9.568 giường (Bảng 2. Các cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn 4 sao có 324 phòng, 3 sao 100 phòng, 2 sao 168 phòng, 1.900 phòng đạt tiêu chuẩn 1 sao.