Chương 1: Cơ sở lý thuyết về du lịch sinh thái Trong chương này, luận văn trình bày các nội dung: Du lịch; du lịch sinh thái; Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội; Hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động du lịch sinh thái; Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái của các địa phương và bài học rút ra cho tỉnh Cà Mau. Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Cà Mau 6 Trong chương này, luận văn trình bày các nội dung: Sơ lược về lịch sử hình thành tỉnh Cà Mau; Giới thiệu tổng quan về tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Cà Mau; Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Cà Mau; Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Cà Mau. Chương 3: iải pháp phát triển du lịch sinh thái tỉnh Cà Mau Trong chương này, luận văn trình bày các nội dung: Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch sinh thái tỉnh Cà Mau thời gian tới; Các giải pháp phát triển du lịch sinh thái tỉnh Cà Mau đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030; ết luận và kiến nghị.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm du lịch Du lịch là một hiện tượng tồn tại c ng với sự phát triển của loài người, là một trong những nhu cầu ngày càng trở thành tất yếu giúp con người điều hoà cuộc sống của chính mình trong xã hội. Sự xuất hiện nhu cầu du lịch xuất phát từ mong muốn tạm thời rời bỏ cuộc sống hàng ngày để đến nơi khác ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao hiểu biết.
Theo IUOTO: “ u lịch được hiểu là hoạt động du hành đến nơi khác với địa điểm cư trú của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”. Tại hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma – Italia (từ ngày 21/8 đến ngày 5/9/1963) đã đưa ra khái niệm: “ u lịch là cả một quy trình gồm tất cả các hoạt động của du khách từ lúc dự trù chuyến đi cho đến lúc di chuyển và đến nơi cư trú, ăn ở, mua sắm, giải trí, giao tiếp, nghỉ ngơi… đến lúc trở về nhà và hồi tưởng”. Định ngh a này đã đánh giá đầy đủ vì vừa chỉ rõ được nhu cầu, mục đích của du khách và nội dung của hoạt động du lịch. Hội nghị quốc tế về du lịch ở Ottawa, Canada (từ ngày 24-28/6/1991) cũng đã đưa ra khái niệm về du lịch như sau: “ u lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước đó, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm”.
Theo từ điển ách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía cạnh: (1) du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích 8 lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Theo ngh a này, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch; (2) du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là l nh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo ngh a này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017): “ u lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Như vậy, có thể hiểu du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du lịch, sản xuất trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những tổ chức kinh doanh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác của khách du lịch. Du lịch là một dạng hoạt động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. oạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa xã hội.2 Khái niệm phát triển du lịch Phát triển du lịch có thể được hiểu như sau: Phát triển du lịch là quá trình con người dựa vào các nguồn lực để tổ chức các hoạt động du lịch đáp ứng nhu cầu đa dạng của các nhóm người trong xã hội nhằm đạt các mục tiêu về kinh tế, văn hoá và môi trường (Hà Thị Thoa, 2014).2 Đặc điểm của hoạt động phát triển du lịch Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. Bất cứ một du khách nào cũng muốn được tham quan, vui chơi giải trí, tìm hiểu, thưởng thức các giá trị về thiên nhiên, lịch sử, văn hoá, xã hội… của một địa phương, v ng, một khu vực.
Dựa vào tài nguyên du lịch để hình thành và khai thác các tuyến điểm du lịch để thu hút khách. Các khu du dịch dựa vào tài nguyên để xây dựng thành điểm đến du lịch nổi 9 tiếng ở Việt Nam như: Vịnh ạ Long, động Sơn Đoòng, Phú Quốc, đảo Bình Ba ( hánh oà), đảo Nam u ( iên iang)… Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu về nghỉ ngơi, đi lại, ăn uống, tham quan, giải trí, mua hàng và các dịch vụ khác của khách sao cho vừa thuận tiện, an toàn, vừa sang trọng, lịch sự và có khả năng đáp ứng các nhu cầu dịch vụ ở mức độ cao cấp. Du lịch là ngành ngoài kinh doanh và dịch vụ ra còn phải đảm bảo nhu cầu an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội cho du khách, cho địa phương và các nước đón nhận du khách. Du lịch rất nhạy cảm với các sự cố về môi trường như thiên tai, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, hạn hán, bão lũ….
Ngành du lịch hoạt động theo qui luật cung cầu thể hiện ở chỗ giá cả tỉ lệ thuận với chất lượng, chất lượng tốt thúc đẩy lượng cầu tăng. Ngành mang tính mùa vụ cao, do hoạt động du lịch không diễn ra đều đặn trong suốt năm tại một điểm mà chỉ tập trung vào những khoảng thời gian nhất định trong năm, trong tuần, trong ngày. Ngành du lịch là một ngành kinh tế - xã hội – dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. oạt động của ngành du lịch vừa mang đặc điểm của một ngành kinh tế vừa mang đặc điểm của một ngành văn hóa xã hội.
Như vậy, đây là một ngành đặc biệt có nhiều đặc điểm và tính chất pha trộn nhau tạo thành một tổng thể rất phức tạp.2 Du lịch sinh thái 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm du lịch sinh thái Ngày nay, xu hướng chung của toàn thế giới coi du lịch nói chung, DLST nói riêng như là nguồn tài nguyên thiên nhiên qu giá. LST đã và đang trên đà trở mình và đã trở nên phổ biến đối với những người yêu thiên nhiên, nó xuất phát từ các trăn trở về môi trường, kinh tế và xã hội – một trong những cách thức để trả nợ cho môi trường tự nhiên và làm tăng giá trị của các khu bảo tồn thiên nhiên còn lại. 10 Theo Lê Huy Bá (2016), du lịch sinh thái là một loại hình du lịch thiên nhiên. Như vậy, với cách tiếp cận này, mọi hoạt động của du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi.
đều được hiểu là DLST. DLST còn có thể được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau: - Du lịch thiên nhiên (Natural tourism) - Du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural-based tourism) - Du lịch môi trường (Environmental tourism) - Du lịch đặc thù (Particular tourism) - Du lịch xanh (Green tourism) - Du lịch thám hiểm (Adventure tourism) - Du lịch bản xứ (Indigenous tourism) - Du lịch có trách nhiệm (Responsible tourism) - Du lịch nhạy cảm (Sensitized tourism) - Du lịch nhà tranh (Cottage tourism) - Du lịch bền vững (Sustainable tourism). DLST bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời. Có người quan niệm, DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động du lịch.
Cũng có ý kiến cho rằng LST đồng ngh a với du lịch đạo lý, du lịch có trách nhiệm, du lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững. DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững (Lê Huy Bá, 2016). DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi.
Nó phải đóng góp vào bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi của dân địa phương. Hens, 1998) 11 Có nhiều ý kiến về định ngh a của du lịch sinh thái, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về LST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái. Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa. DLST nói theo một định ngh a nào chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần: (1) sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường; (2) trách nhiệm với xã hội và cộng đồng.