Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan niệm về du lịch sinh thái 1. Khái niệm chung về du lịch: Từ giữa thế kỷ XIX, du lịch đã bắt đầu phát triển mạnh và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới. Thuật ngữ du lịch đã trở nên khá thông dụng. Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm du lịch cũng không giống nhau.
Theo Liên hiệp Quốc tế Tổ chức các Cơ quan Lữ hành (International Union of Official Travel Oragnization - IUOTO)[24]: Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống. Tại hội nghị Liên hiệp quốc về du lịch họp tại Roma - Italia (21/8 đến 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ[24].I pirôgionic, 1985[23]: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá. ` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ở Việt Nam, khái niệm này được định nghĩa chính thức trong pháp lệnh du lịch, (1999) như sau: “ Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Như vậy, qua hai định nghĩa trên cho thấy rằng du lịch là một ngành liên quan đến rất nhiều thành phần: Khách du lịch; phương tiện giao thông; địa bàn đón khách; dân địa phương; trong đó diễn ra các hoạt động du lịch cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội khác liên quan đến du lịch. Vì vậy, các tác động của du lịch đến địa bán đón khách là khá đa dạng ở nhiều khía cạnh và phụ thuộc nhiều vào loại hình du lịch. Trước những tác động xấu ngày càng gia tăng do du lịch mang lại buộc các nhà nghiên cứu du lịch phải tìm kiếm một cách thức, một chiến lược mới nhằm đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển du lịch với bảo vệ môi trường. Theo đó, một loại hình du lịch mới ra đời đáp ứng yêu cầu du lịch bền vững đó là du lịch sinh thái.
Khái niệm về du lịch sinh thái: Cho đến thập kỷ 80, loại hình du lịch mới này bắt đầu được quan tâm, năm 1991, xuất hiện khái niệm DLST, là một loại hình du lịch thay thế có sức hấp dẫn lớn.DLST được định nghĩa ở thời kỳ sơ khởi của nó như sau: “ DLST là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sin thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu” ( Boo,1991). Sau đó, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch sinh thái đã được các nhà nghiên cứu quan tâm đưa ra. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung lại các định nghĩa đều tập trung vào việc nhấn mạnh bản chất của loại hình du lịch này. ` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trong một định nghĩa được đưa ra tại cuộc hội thảo toàn Canada “ DLST là một hình thức du lịch tự nhiên mang tính khai sáng, góp phần bảo tồn hệ sinh thái mà vẫn tôn trọng sự hoà nhập của các cộng đồng địa phương”.
Định nghĩa này bao hàm cả khía cạnh giá trị và khía cạnh nguồn lực, hàm chứa một sự cân bằng giữa các lợi ích về nguồn lực, lợi ích của ngành du lịch, lợi ích của cộng đồng địa phương và khách du lịch. Còn rất nhiều định nghĩa khác về DLST của nhiều học giả và được Buckley tổng quát lại như sau: “Chỉ có du lịch dựa vào tự nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được mô tả như là DLST”. Trong đó, yếu tố quản lý bền vững bao hàn cả nội dung hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội địa phương. Như vậy, từ định nghĩa về DLST được đưa ra vào thời điểm sơ khai, qua rất nhiều những định nghĩa khác nhau đã dần nhấn mạnh rằng DLST không chỉ đơn thuần là du lịch đến một vùng tự nhiên, thưởng thức một chút gì đó một cách thụ động và ít gây tác động đến môi trường, mà còn phải là du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục cao, đóng góp cho hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên, đem lại lợi ích cho cộng đồng sở tại cả về mặt kinh tế, văn hoá và xã hội.
Tại hội thảo “DLST với phát triển bền vững ở Việt Nam” đã thống nhất đi đến khái niệm về DLST như sau: “DLST là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hoá đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”. Định nghĩa này đã bao hàn đầy đủ nội dung và tính chất của DLST, thống nhất cơ bản với các khái niệm của các nhà nghiên cứu đã đưa ra. Qua đó, ta thấy rằng DLST được xem như là loại hình du lịch mà trong nó bao hàm các mặt tích cực của một số loại hình du lịch. ` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Những đặc trưng của DLST: DLST khác với các loại hình du lịch khác ở những đặc trưng chủ yếu sau: - Dựa trên sự hấp dẫn của các yếu tố văn hoá – lịch sử bản địa và sự hấp dẫn của cảnh quan tự nhiên.
- Hỗ trợ mục đích bảo tồn và giữ ổn định sinh thái. - Gắn với giáo dục môi trường(GDMT). GDMT trong DLST có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ, hành vi của khách du lịch, cộng đồng và của chính ngành du lịch đối với vấn đề bảo tồn và phát triển tài nguyên, qua đó góp phần đảm bảo sự bền vững của DLST. - Hỗ trợ kinh tế địa phương, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương: Sự tham gia của địa phương là cần thiết cho ngành du lịch, người dân địa phương, nền văn hoá, môi trường, lối sống và truyền thống của họ là những nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch tới một điểm du lịch.
Do vậy, các nhu cầu và khát vọng của dân địa phương cần phải được ủng hộ hoàn toàn. DLST có thể giúp mở mang những lợi ích, kích thích phát triển kinh tế và đem lại cơ hội đa dạng hoá nền kinh tế. DLST có thể trở thành công cụ hỗ trợ cho bảo tồn và phát triển, song điều này chỉ trở thành hiện thực “ Nếu như có sự nỗ lực thống nhất nhằm gắn cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch”. Đây cũng chính là cách để người dân có thể trở thành những thành viên tích cực trong công tác bảo tồn.
Các nguyên tắc cơ bản của DLST: DLST phát triển dựa trên những nguyên tắc hướng tới sự phát triển bền vững. Những nguyên tắc được đảm bảo trong DLST không chỉ cho các nhà quy hoạch, quản lý, tổ chức, điều hành du lịch mà còn cho cả hướng dẫn viên DLST, cho cả cộng đồng địa phương. - Phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan giải trí, khám phá, tìm hiểu tự nhiên của con người. - Hỗ trợ công tác bảo tồn tài nguyên DLST nói riêng và tài nguyên thiên nhiên ở các KBTTN và các KBTTN nói chung.
` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Hỗ trợ kinh tế địa phương, tạo thêm những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng địa phương, những người có quyền làm chủ trong sự phát triển và trong các hoạch định du lịch. Đây chính là mục tiêu hướng tới của DLBV. Đối chiếu các nguyên tắc của DLST với các nguyên tắc của du lịch bền vững (DLBV) cho thấy các nguyên tắc của DLST cũng nhằm vào các mục tiêu hướng tới DLBV.5 Những yêu cầu cơ bản đối với DLST : Để đạt được các mục tiêu này thì việc hiểu biết về DLST ở các KBTTN, KBTTN, các lợi ích có thể có và những vấn đề tiêu cực có thể nảy sinh tác động tới hoạt động bảo tồn và cộng đồng địa phương là hết sức cần thiết. Những yêu cầu cơ bản đối với DLST được khái quát lại như sau: - Yêu cầu 1: Sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng cao.
Điều này cũng giải thích một phần tại sao hoạt động DLST thường chỉ diễn ra ở các KBTTN, KBTTN. - Yêu cầu 2: Đảm bảo khả năng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho du khách. Hoạt động DLST đòi hỏi người điều hành phải tuân thủ nguyên tắc, có sự cộng tác chặt chẽ với các nhà quản lý KBTTN và cộng đồng địa phương. - Yêu Cầu 3: Có sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “Sức chứa” theo cả 4 mặt: Tâm lý, Sinh học, Vật lý và Xã hội.
- Yêu cầu 4: Đảm bảo tính công bằng trong chia sẻ lợi ích DLST với cộng đồng địa phương. Du lịch sinh thái bền vững gắn với bảo tồn tài nguyên KBTTN 1.1 Vai trò của KBTTN với Du lịch sinh thái : 1.1 Khái niệm KBTTN : Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Khu bảo tồn thiên nhiên. Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) thì Khu bảo tồn thiên nhiên là: Vùng đất hay vùng biển đặc biệt được dành để bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên ` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thiên nhiên, kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hoá và được quản lý bằng pháp luật hoặc các phương thức hữu hiệu khác.