Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành du lịch đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đóng góp tích cực vào công tác xóa đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm. Tỉnh Nghệ An sở hữu 82 km bờ biển với nhiều bãi tắm tự nhiên, trong đó bờ biển thị xã Cửa Lò là điểm đến nổi bật của khu vực Bắc Trung Bộ. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của lượng khách du lịch cùng tốc độ đô thị hóa nhanh đã đặt khu vực ven biển Cửa Lò trước nhiều nguy cơ thiếu bền vững. Các vấn đề cấp bách nảy sinh bao gồm: hiện tượng ô nhiễm nguồn nước cục bộ ven bờ, lượng chất thải rắn sinh hoạt gia tăng đột biến trong mùa cao điểm, tính chất du lịch thuần túy mùa vụ, sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch liên vùng và các bất cập trong quản lý, khai thác tài nguyên tự nhiên dẫn tới nguy cơ suy thoái môi trường sống cũng như mai một giá trị văn hóa bản địa.

Trong bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch biển bền vững tại Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An" được sinh viên Trần Thị Sương thực hiện tại Khoa Quản lý Tài nguyên Rừng & Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp (năm 2020), dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Hải Hòa, chuyên ngành Khoa học Môi trường (mã số: 7440301).

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác lập cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Dựa trên những lý luận và nghiên cứu thực tiễn trên thế giới và tại Việt Nam để đánh giá, áp dụng mô hình du lịch biển bền vững cho vùng biển tiềm năng khai thác du lịch; cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp phát triển du lịch biển theo hướng bền vững.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch biển tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
    • Đánh giá mức độ bền vững của du lịch biển khu vực nghiên cứu trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.
    • Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển du lịch biển bền vững khu vực nghiên cứu.

Về đối tượng và phạm vi:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh và khai thác du lịch (dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, hạ tầng kỹ thuật và công tác quản lý của các cơ quan chuyên ngành) gắn với tác động kinh tế, xã hội và chất lượng môi trường tự nhiên.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập, phân tích chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2017 – 2019, đồng thời kế thừa một số dữ liệu quy hoạch và kinh tế tổng thể giai đoạn 2001 – 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật, khung lý thuyết quốc tế và hệ thống tiêu chí định lượng của ngành du lịch và môi trường:

  • Khung khái niệm và văn bản định hướng: Tiếp cận khái niệm phát triển bền vững của Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED), Tuyên bố Rio-92 và Rio+95; quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX; định nghĩa du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Luật Du lịch số 09/2017/QH14 (khoản 1 Điều 3 về khái niệm du lịch, khoản 14 Điều 3 về khái niệm phát triển du lịch bền vững). Về loại hình du lịch biển, tác giả vận dụng phân loại của Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền (2009). Khung quy hoạch dựa trên Quyết định số 2737/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, cùng Kế hoạch số 771/KH-UBND ngày 14/12/2017 về điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Cửa Lò.
  • Hệ thống nguyên tắc và tiêu chí: Khóa luận hệ thống hóa 7 yêu cầu phát triển bền vững (tính hệ sinh thái, tính hiệu quả, tính công bằng, tính bản sắc văn hóa, tính cộng đồng, tính cân bằng, tính phát triển) và 9 nguyên tắc phát triển du lịch bền vững. Để lượng hóa mức độ bền vững, tác giả sử dụng bộ tiêu chí của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch gồm 3 trụ cột: (1) Tiêu chí kinh tế (khách du lịch, GDP du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực); (2) Tiêu chí tài nguyên - môi trường (tỷ lệ điểm được bảo tồn, tỷ lệ quy hoạch, áp lực môi trường, đóng góp ngân sách cho bảo vệ môi trường); (3) Tiêu chí xã hội (phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, tác động xã hội, mức độ hài lòng và hợp tác của cộng đồng địa phương).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu gồm:

  • Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu thứ cấp: Thu thập, tổng hợp báo cáo tổng kết giai đoạn 2017 – 2019 của Đảng ủy, HĐND, UBND thị xã Cửa Lò và Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Cửa Lò.
  • Phương pháp điều tra hiện trạng môi trường: Khảo sát thực địa nguồn phát sinh và hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; đánh giá cảm quan và nguồn ô nhiễm tác động đến môi trường nước mặt (sông Cấm, sông Lam) và môi trường nước ngầm tầng cồn cát ven biển.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn xã hội học: Thực hiện phỏng vấn bằng phiếu điều tra với quy mô mẫu $n = 50$, bao gồm 20 phiếu dành cho khách du lịch nội địa và quốc tế, 15 phiếu dành cho các hộ dân trực tiếp kinh doanh du lịch, và 15 phiếu dành cho các cơ quan, doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương.
  • Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Đánh giá điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) đối với phát triển du lịch biển Cửa Lò.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xây dựng và đề xuất hệ thống giải pháp liên ngành nhằm thúc đẩy tính bền vững.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu

Chương này tập trung làm rõ cơ sở lý luận về phát triển bền vững và du lịch biển bền vững. Tác giả phân tích bản chất của phát triển bền vững là sự giao thoa hài hòa giữa ba phân hệ: kinh tế, xã hội và tự nhiên. Nội dung chương trình bày chi tiết định nghĩa du lịch, du lịch biển và phát triển du lịch bền vững theo các chuẩn mực của UNWTO và Luật Du lịch 2017. Tác giả luận giải 7 yêu cầu cốt lõi cùng 9 nguyên tắc mang tính định hướng: sử dụng nguồn lực bền vững, giảm thiểu tiêu thụ tài nguyên quá mức, duy trì đa dạng sinh học và văn hóa, đặt du lịch trong quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, hỗ trợ kinh tế địa phương, thu hút sự tham gia của cộng đồng, lấy ý kiến nhân dân, đào tạo nguồn nhân lực và tiếp thị có trách nhiệm. Cuối chương là bộ tiêu chí cụ thể của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch dùng để đo lường mức độ phát triển bền vững trên cả ba khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội.

Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 xác định hệ thống mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi tại khu du lịch biển Cửa Lò giai đoạn 2017 – 2019. Chương này thiết kế chi tiết 4 nội dung nghiên cứu tương ứng với quy trình phương pháp luận: (1) Đánh giá hiện trạng du lịch và môi trường bằng thống kê số liệu và điều tra thực địa; (2) Đánh giá phát triển du lịch theo quan điểm bền vững thông qua bộ 50 phiếu điều tra xã hội học cấu trúc sẵn; (3) Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức bằng công cụ SWOT; (4) Tổng hợp xây dựng giải pháp khả thi. Toàn bộ mẫu phiếu khảo sát dành cho du khách, cộng đồng cư dân và doanh nghiệp đều được tác giả thiết kế và trình bày rõ ràng về nội dung câu hỏi và thang đo.

Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Chương 3 khái quát toàn diện các đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của thị xã Cửa Lò:

  • Tự nhiên: Tọa độ địa lý từ 18°45' đến 18°50' vĩ độ Bắc, 105°42' đến 105°45' kinh độ Đông; ranh giới giáp Biển Đông, huyện Nghi Lộc, thành phố Vinh, huyện Nghi Xuân và huyện Diễn Châu; diện tích tự nhiên được ghi nhận là 2.781 ha (trong văn bản thể hiện dưới định dạng số 2781 ki lô mét vuông). Địa hình bằng phẳng, nằm giữa hạ lưu sông Lam và sông Cấm. Khí hậu chia 2 mùa rõ rệt, biên độ nhiệt năm lớn, chịu tác động của gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam khô nóng (hiệu ứng Phơn), lượng mưa trung bình 1.900 mm/năm nhưng phân bố không đều (tập trung tháng 8 – 10). Hệ sinh thái phong phú với rạn san hô, cỏ biển, các loài hải sản quý (cá thu, cá chim, cá nục, mực sim, tôm hùm, sò huyết) và sinh vật cảnh biển.
  • Xã hội: Thành lập năm 1994, Cửa Lò có 7 phường (Nghi Thủy, Nghi Tân, Thu Thủy, Nghi Hòa, Nghi Hải, Nghi Hương, Nghi Thu) với dân số 70.000 người, trong đó 11% theo đạo Thiên Chúa; đề án mở rộng thị xã dự kiến sáp nhập thêm 4 xã thuộc huyện Nghi Lộc (Nghi Thạch, Nghi Khánh, Nghi Xuân, Nghi Hợp) để tăng diện tích lên 49,52 km² và dân số trên 100.000 người. Hoạt động an ninh trật tự, an toàn du lịch ven biển được duy trì chặt chẽ trong phạm vi 10,2 km từ đảo Lan Châu đến bãi tắm Hải Hòa. Nền tảng văn hóa thể hiện qua các lễ hội truyền thống (lễ hội Cầu ngư Nghi Hải, lễ hội đền Mai Bảng, lễ hội Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí) và 3 làng nghề truyền thống được cấp nhãn hiệu tập thể (nước mắm Hải Giang 1, chế biến hải sản Nghi Tân, đánh bắt và chế biến hải sản Nghi Thủy) cùng thương hiệu cá thu nướng Cửa Lò.
  • Kinh tế: Ngư trường rộng lớn với gần 340 tàu thuyền, 39 ha nuôi trồng thủy sản nước ngọt và hơn 45 cụm lồng bè; các cơ sở công nghiệp chế biến như nhà máy sữa Vinamilk, nhà máy bánh kẹo Tràng An 2, nhà máy chế biến gỗ và hệ thống cơ sở hạ tầng lưu trú phát triển nhanh.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận, phản ánh chi tiết các mặt hoạt động:

  • Hoạt động du lịch giai đoạn 2017 – 2019: Khách du lịch, doanh thu dịch vụ, cơ sở lưu trú và lao động ngành du lịch đều duy trì đà tăng trưởng cao qua từng năm.
  • Chất lượng môi trường và quản lý chất thải: Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn (CTR) sinh hoạt toàn thị xã đạt bình quân 1,2 kg/người/ngày. Trong đó, phường Nghi Hải (trung tâm nghề cá) và xã Nghi Hương (sản xuất nông nghiệp) có khối lượng rác thải bình quân đầu người cao nhất. Thành phần CTR hữu cơ chiếm ưu thế tuyệt đối (72,4% ở hộ gia đình, 80,0% ở khu thương mại - văn phòng). Công tác thu gom do Công ty Du lịch - Dịch vụ & Môi trường Cửa Lò đảm nhận với diện tích quét gom 365 ha, rác thải được vận chuyển về bãi rác Nghi Hương rộng 7,3 ha; tuy nhiên phương tiện còn thiếu thốn dẫn đến việc xử lý rác cục bộ bằng hình thức chôn đốt thủ công. Về nguồn nước, nước mặt sông Cấm bị ô nhiễm nhẹ bởi dầu mỡ tàu thuyền và rác sinh hoạt từ Nghi Tân; nước ngầm tầng cồn cát ven biển đứng trước nguy cơ ô nhiễm do nhiều cơ sở lưu trú chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn mà cho thẩm thấu tự nhiên.
  • Đánh giá tính bền vững và SWOT: Tỷ trọng dịch vụ du lịch đóng góp lớn vào GDP bình quân (đạt 69% giai đoạn 2015 – 2019). Kết quả khảo sát 20 du khách về hạ tầng giao thông cho thấy 70% hài lòng, 20% trung lập và 10% không hài lòng. Ma trận SWOT chỉ ra điểm mạnh về cảnh quan, hải sản tươi ngon, nguồn lao động trẻ; điểm yếu về tính mùa vụ gay gắt, ý thức môi trường hạn chế; cơ hội từ thu hút đầu tư hạ tầng kết nối đô thị Vinh - Cửa Lò; thách thức từ suy thoái môi trường nước và sự rập khuôn trong sản phẩm kiến trúc du lịch.
  • Đề xuất giải pháp: Tác giả xây dựng 7 nhóm giải pháp đồng bộ gồm: cơ chế đầu tư, thị trường và sản phẩm du lịch, quản lý quy hoạch, khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy vai trò cộng đồng địa phương, và bảo vệ môi trường du lịch.

Chương 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Chương cuối cùng tổng kết các kết quả đạt được về tăng trưởng kinh tế, diện mạo hạ tầng và việc làm tại thị xã Cửa Lò; đồng thời chỉ rõ những tồn tại về áp lực rác thải, ô nhiễm nguồn nước ngầm cục bộ, tính mùa vụ và hạn chế về trình độ nhân lực. Tác giả nêu các kiến nghị gửi tới UBND tỉnh Nghệ An và UBND thị xã Cửa Lò nhằm đẩy mạnh phân cấp quản lý, đầu tư hạ tầng kỹ thuật môi trường và kiểm soát chặt chẽ quy hoạch phát triển ven biển.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống chỉ tiêu định lượng phản ánh thực trạng phát triển du lịch biển Cửa Lò trong giai đoạn 2017 – 2019 qua các bảng biểu cụ thể:

Bảng 1: Các chỉ tiêu phát triển du lịch thị xã Cửa Lò giai đoạn 2017 – 2019

Chỉ tiêu theo dõi Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Tổng lượng khách du lịch (lượt) 2.470.000 ~2.800.000 3.178.000
Khách lưu trú (lượt) 1.410.000 1.566.000 1.620.000
Khách quốc tế (lượt) 5.500 6.000 7.051
Tổng doanh thu du lịch (tỷ đồng) 2.280 2.851 3.450
Thu thuế, phí dịch vụ du lịch (tỷ đồng) — — 50
Tổng số cơ sở lưu trú (cơ sở) 293 296 304
Tổng số phòng nghỉ (phòng) 8.954 9.354 9.704
Khả năng phục vụ lưu trú (lượt khách/ngày đêm) 22.000 24.000 25.000
Số cơ sở lưu trú đạt chuẩn 1 – 5 sao — 53 54
Số lượng lao động ngành du lịch (người) 10.000 10.500 10.870

Bảng 2: Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại Cửa Lò

Thành phần chất thải rắn CTR hộ gia đình (%) CTR thương mại – văn phòng (%) CTR tại điểm thu gom (%)
Rác thải hữu cơ 72,4 80,0 76,8
Đồ gốm, sứ 4,9 3,1 5,4
Nhựa 3,1 4,1 4,7
Giấy, báo 1,8 3,8 2,5
Thủy tinh 1,9 1,4 1,9
Vải, sợi 1,8 1,3 1,6
Kim loại 1,6 0,7 1,0
Da, cao su 1,7 0,8 0,7
Các loại khác 10,9 5,0 5,5
Tổng cộng 100,0 100,0 100,0

Bảng 3: Đánh giá của khách du lịch về sự thuận lợi của đường sá (n = 20)

Mức độ đánh giá Số lượng khách (người) Tỷ lệ (%)
Hài lòng 14/20 70%
Trung lập 4/20 20%
Không hài lòng 2/20 10%

Về các giải pháp và đóng góp của nghiên cứu:

  • Tác giả đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp gắn liền với thực tiễn Cửa Lò: (1) Cơ chế huy động vốn đầu tư phát triển hạ tầng cao cấp; (2) Đa dạng hóa sản phẩm du lịch (thể thao biển, nghỉ dưỡng, hội thảo) nhằm khắc phục tính mùa vụ; (3) Triển khai đồng bộ quy hoạch đô thị theo hướng đại lộ Vinh - Cửa Lò, bảo tồn dải cây xanh phía Đông đường Bình Minh; (4) Ứng dụng khoa học công nghệ trong xử lý môi trường và hợp tác quốc tế đón khách viễn dương; (5) Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về giá cả và trật tự an toàn du lịch; (6) Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương thông qua phát triển làng nghề truyền thống và chuỗi cung ứng dịch vụ nghề cá; (7) Hoàn thiện mạng lưới thu gom, nâng cấp bãi rác Nghi Hương và quy định bắt buộc xử lý nước thải đối với các khách sạn.
  • Đóng góp khoa học của đề tài thể hiện ở việc thu thập và xâu chuỗi các dữ liệu thực tế về kinh tế - môi trường giai đoạn 2017 – 2019, cung cấp bức tranh chân thực về áp lực rác thải sinh hoạt (1,2 kg/người/ngày) và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm cồn cát dưới tác động của sự phát triển dịch vụ lưu trú quy mô lớn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn nghiên cứu được phản ánh từ nội dung văn bản:

  • Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn hạn chế ($n = 50$ phiếu hỏi), trong đó số lượng 20 phiếu dành cho du khách chưa đảm bảo tính đại diện cao cho tổng thể hơn 3 triệu lượt khách hàng năm.
  • Số liệu đánh giá chất lượng môi trường nước mặt và nước ngầm chủ yếu dừng lại ở mức mô tả hiện trạng, thống kê nguồn tiếp nhận và nhận định cảm quan kế thừa, chưa cung cấp chuỗi dữ liệu phân tích hóa lý chi tiết (như BOD5, COD, coliform, kim loại nặng).
  • Thời gian nghiên cứu tập trung trong giai đoạn ngắn (2017 – 2019) nên chưa lượng hóa hết biến động môi trường theo chu kỳ nhiều năm.

Hướng nghiên cứu tiếp được xác định: Mở rộng cỡ mẫu điều tra xã hội học theo phương pháp chọn mẫu phân tầng đối với các phân khúc du khách khác nhau; triển khai lấy mẫu định kỳ và phân tích định lượng các thông số chất lượng môi trường nước biển ven bờ, nước ngầm tầng nông; tính toán cụ thể sức chịu tải du lịch (carrying capacity) của bãi tắm Cửa Lò để đưa ra khuyến cáo khoa học về giới hạn phát triển hạ tầng lưu trú.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo rõ ràng cho sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên & Môi trường, Du lịch học và Kinh tế phát triển khi thực hiện đề tài tốt nghiệp về đánh giá phát triển bền vững địa bàn ven biển. Các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, đặc biệt là Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Cửa Lò, có thể tham khảo phương pháp tiếp cận điều tra hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt, thành phần rác thải hữu cơ và sơ đồ luồng thu gom chất thải rắn đô thị để tối ưu hóa công tác vệ sinh môi trường trong mùa cao điểm du lịch.

Phần nội dung đáng chú ý nhất là Chương 4 với hệ thống bảng biểu định lượng về tăng trưởng khách du lịch, doanh thu, cơ sở lưu trú và các phân tích thực tế về quy trình thu gom rác thải, áp lực nước thải lên nguồn nước ngầm cồn cát ven biển.

Câu hỏi thường gặp

1. Lượng khách du lịch và doanh thu tại Cửa Lò thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2017 – 2019?
Giai đoạn 2017 – 2019 ghi nhận sự tăng trưởng liên tục: Tổng lượng khách tăng từ 2.470.000 lượt (năm 2017) lên gần 2.800.000 lượt (năm 2018) và đạt 3.178.000 lượt (năm 2019). Khách quốc tế tăng tương ứng từ 5.500 lượt lên 6.000 lượt và 7.051 lượt. Doanh thu du lịch tăng từ 2.280 tỷ đồng (năm 2017) lên 2.851 tỷ đồng (năm 2018) và đạt 3.450 tỷ đồng (năm 2019).

2. Thực trạng phát sinh và thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại Cửa Lò có đặc điểm gì?
Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đạt bình quân 1,2 kg/người/ngày, cao nhất tại phường Nghi Hải (nghề cá) và xã Nghi Hương (nông nghiệp). Rác thải hữu cơ chiếm tỷ lệ cao vượt trội trong thành phần rác thải: 72,4% tại hộ gia đình, 80,0% tại cơ sở thương mại - văn phòng và 76,8% tại các điểm tập kết. Rác được thu gom trên diện tích 365 ha và tập kết về bãi rác Nghi Hương rộng 7,3 ha.

3. Môi trường nước tại thị xã Cửa Lò chịu những áp lực ô nhiễm nào?
Môi trường nước mặt sông Cấm bị ô nhiễm nhẹ do tiếp nhận dầu mỡ từ hoạt động cảng, tàu thuyền và rác thải từ phường Nghi Tân. Môi trường nước ngầm trong cồn cát ven biển đứng trước nguy cơ ô nhiễm do các khách sạn, nhà nghỉ chưa có trạm xử lý nước thải đạt chuẩn mà cho nước thải sinh hoạt ngấm trực tiếp xuống đất cát, đặc biệt gia tăng gấp 2 – 3 lần vào mùa cao điểm du lịch.

4. Mẫu khảo sát xã hội học của đề tài được phân bổ như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng tổng cộng 50 phiếu điều tra phỏng vấn, được phân bổ cho 3 nhóm đối tượng: 20 phiếu dành cho khách du lịch, 15 phiếu dành cho người dân địa phương tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch, và 15 phiếu dành cho các cơ quan, doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ.

5. Cơ sở vật chất kỹ thuật lưu trú tại Cửa Lò phát triển ra sao đến năm 2019?
Đến năm 2019, toàn thị xã Cửa Lò có 304 cơ sở lưu trú với quy mô 9.704 phòng nghỉ, đáp ứng phục vụ 25.000 lượt khách lưu trú mỗi ngày đêm. Trong hệ thống này có 54 cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 5 sao, đủ điều kiện tổ chức các sự kiện quy mô lớn.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Sương đã khái quát và lượng hóa thành công bức tranh toàn diện về hoạt động du lịch biển tại thị xã Cửa Lò giai đoạn 2017 – 2019 trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và tài nguyên môi trường. Đề tài làm rõ mối quan hệ mật thiết giữa sự tăng trưởng kinh tế du lịch với các nguy cơ suy thoái môi trường cục bộ, trọng tâm là vấn đề chất thải rắn sinh hoạt và ô nhiễm nước ngầm ven bờ. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ và bám sát các điều kiện thực tế của địa phương, đóng góp thêm cơ sở khoa học cho công tác quản trị và định hướng phát triển du lịch biển Cửa Lò theo hướng bền vững.