ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đang bƣớc vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng xã hội chủ nghĩa, du lịch cũng đang dần khẳng định đƣợc vai trò của nó trong nền kinh tế đất nƣớc. Ngành Du lịch Việt Nam nói chung và du lịch khu biển thị xã Cửa Lò nói riêng trong những năm qua đã đạt đƣợc những kết quả đáng ghi nhận. Lƣợng khách du lịch nội địa và quốc tế không ngừng tăng lên, thu nhập du lịch cũng đƣợc nâng lên đáng kể, hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật liên tục đƣợc nâng cấp cả về số lƣợng và chất lƣợng.
Bên cạnh những đóng góp về mặt kinh tế, du lịch cũng là ngành có đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, từng bƣớc cải thiện đời sống nhân dân. Đây cũng là ngành có đóng góp lớn vào cơ cấu kinh tế của địa phƣơng nói riêng và của cả nƣớc nói chung. Nghệ An có đƣờng bờ biển kéo dài 82 km với nhiều bãi tắm đẹp phục vụ cho phát triển du lịch, trong đó Cửa Lò là một trong những bãi biển đẹp nhất trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng và cả nƣớc nói chung. Tuy nhiên, du lịch biển ở thị xã Cửa Lò chƣa thực sự khai thác hết tiềm năng của mình, đồng thời cùng với sự phát triển “nóng” về du lịch của vùng ven biển Cửa Lò cũng đang đứng trƣớc những thách thức không bền vững nhƣ: vùng ven bờ biển đang bị báo động về mức độ ô nhiễm nguồn nƣớc, lƣợng chất thải sinh hoạt gia tăng quá nhiều vào mùa du lịch, du lịch còn thiếu tình mùa vụ, quy hoạch phát triển thiếu tính đồng bộ giữa các địa phƣơng với nhau trong khu vực, đặc biệt là vùng ven bờ biển vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, nhất là trong việc quản lí, khai thác tài nguyên.
Điều đó đã gây tác hại, làm cho nguồn tài nguyên bị suy thoái, môi trƣờng bị hủy hoại, bản sắc văn hóa dân tộc bị đe doạ, các giá trị văn hóa truyền thống bị thƣơng mại hóa, tệ nạn xã hội nảy sinh… ngày càng nghiêm trọng. Để giải quyết tốt vấn đề bức xúc này đòi hỏi phải có những biện pháp mang tính khoa học, hiệu quả và đồng bộ nhằm đạt đƣợc những mục tiêu về phƣơng diện kinh tế, văn hóa - xã hội, tài nguyên - môi trƣờng, đảm bảo phát triển bền vững trong tƣơng lai. nếu không đƣợc kiểm soát. Trƣớc những vấn đề đó, thị xã Cửa Lò phải có định hƣớng phát triển du lịch biển theo hƣớng bền vững.
1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về phát triển bền vững và du lịch bền vững 1.1 Khái niệm phát triển bền vững Có thể nói mục tiêu của mỗi quốc gia, mỗi cá nhân chúng ta luôn luôn không ngừng vận động để tồn tại, làm mới để phát triển đất nƣớc và con ngƣời mình. Sự phát triển là một quá trình tăng trƣởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, khoa học kĩ thuật. Theo UNCED, “Phát triển bền vững thoả mãn những nhu cầu của hiện tại nhƣng không làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Nhƣ vậy, nếu một hoạt động có tính bền vững, xét về mặt lý thuyết nó có thể đƣợc thực hiện mãi mãi.
Thế hệ hôm nay phải khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lí nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình, sao cho không ảnh hƣởng đến việc thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ sau, không làm hủy họa môi trƣờng sống hoặc gây ra những thảm họa sinh thái cho con cháu. Hội nghị đã thông qua chiến lƣợc phát triển bền vững và khẳng định rằng, phát triển bền vững là “sự phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con ngƣời hiện nay và không ảnh hƣởng bất lợi đối với các thế hệ tƣơng lai trong việc thỏa mãn những nhu cầu của họ”. [9] Tại hội nghị về môi trƣờng toàn cầu RIO-92 và RIO+95, khái niệm về phát triển bền vững đƣợc thảo luận, bổ sung và mở rộng. Theo đó, phát triển bền vững đƣợc hình thành trong sự phát triển của 3 hệ thống là tự nhiên, kinh tế và văn hóa xã hội.
Nói cách khác, phát triển bền vững là kết quả của sự giao thoa của ba hệ thống nói trên trong một quá trình phát triển. Phát triển bền vững không cho phép ƣu tiên phát triển thế hệ này mà gây ra sự suy thoái và hủy hoại đối với thế hệ khác. Sơ đồ phát triển bền vững Cũng nhƣ nhiều quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, phát triển bền vững đã sớm trở thành một mục tiêu chiến lƣợc quan trọng của Đảng Cộng sản và Nhà nƣớc Việt Nam. Trong Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã xác định chiến lƣợc phát triển của đất nƣớc ta trong khoảng 20 năm tới là: “Phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững tăng trƣởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bƣớc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trƣờng”.
“sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và cải thiện môi trƣờng, bảo tồn đa dạng sinh học, coi đây là nội dung chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chƣơng trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội”.2 Khái niệm về du lịch WTO định nghĩa “Du lịch theo nghĩa hành động, đƣợc định nghĩa là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này. Ngƣời đi du lịch là ngƣời đi ra khỏi nơi mình cƣ trú một quãng đƣờng tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích giải trí, tiêu khiển”. Ở Việt Nam, theo khoản 1 điều 3 luật Du lịch của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 09/2017/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2017, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi 3 cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.3 Khái niệm du lịch biển Trong tác phẩm Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang (2009), tác giả Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền đã đƣa ra khái niệm du lịch biển: “là loại hình du lịch đƣợc phát triển ở khu vực ven biển nhằm phục vụ cho khách du lịch về nghỉ dƣỡng, vui chơi giải trí, khám phá, mạo hiểm…trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch biển”. [9] Các loại hình du lịch biển gồm: - Du lịch theo sở thích ý muốn chung: du lịch nghỉ dƣỡng biển, du lịch tham quan biển, du lịch tàu biển.
- Du lịch theo sở thích đặc biệt: du lịch sinh thái biển, thể thao biển, mạo hiểm biển, tìm hiểu lối sống cộng đồng, lễ hội biển, văn hóa nghệ thuật. - Du lịch theo nghĩa vụ, trách nhiệm: du lịch chữa bệnh, thƣơng mại, công vụ, hội nghị, hội thảo, hội chợ.4 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững Từ những năm 1990, việc phát triển du lịch trên phạm vi toàn cầu với mục đích đơn thuần thu lợi về mặt kinh tế đã và đang đe dọa, hủy hoại môi trƣờng sinh thái làm mai một dần bản sắc văn hóa bản địa. Hậu quả của những tác động này đã ảnh hƣởng xấu đến sự bền vững của khu du lịch nói riêng và bản thân sự phát triển lâu dài của ngành du lịch nói chung. Chính vì vậy đã xuất hiện yêu cầu nghiên cứu và các phƣơng án giải quyết để hƣớng tới phát triển du lịch bền vững, nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trƣờng tự nhiên và văn hóa xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững, lâu dài.
Tại Hội nghị về môi trƣờng và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đƣa ra định nghĩa: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu 4 cầu hiện tại của khách du lịch và ngƣời dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tƣơng lai. Du lịch bền vững nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con ngƣời trong khi đó vẫn duy trì đƣợc sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con ngƣời”. Ở Việt Nam, khái niệm phát triển du lịch bền vững còn tƣơng đối mới. Nhƣng thông qua các bài học kinh nghiệm và thực tiễn về phát triển du lịch bền vững ở các nƣớc trên thế giới, thì phát triển du lịch ở nƣớc ta đang hƣớng tới có trách nhiệm đối với tài nguyên và môi trƣờng.
Vì thế đã xuất hiện nhiều loại hình du lịch mới ở Việt Nam thân thiện và gần gũi với môi trƣờng nhƣ: du lịch sinh thái, du lịch thiên nhiên, du lịch xanh đặc biệt là số lƣợng khách du lịch đến với các khu bảo tồn, vƣờn quốc gia ngày càng tăng. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2015 Việt Nam đón 7,9 triệu lƣợt khách quốc tế, thì tới năm 2018 đã tăng lên 15,5 triệu lƣợt khách quốc tế. Trong 9 tháng năm 2019 du lịch Việt Nam tiếp tục tăng trƣởng 10,8% (hơn 12,8 triệu lƣợt khách quốc tế và hơn 66 triệu lƣợt khách nội địa). Tổng thu từ du lịch phấn đấu năm 2019 ƣớc đạt 700.
Khái niệm du lịch bền vững đƣợc quy định rõ ở Việt Nam là “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trƣờng, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tƣơng lai.