CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1.1 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Khoang hơn một thập kỷ trước đây, hàng loạt các ngân hàng bắt đầu cung ứng. một phần mềm ứng dụng cho khách hàng nhằm giúp khách hàng của mình có thể xem số dư tài khoản đồng thời thực hiện các lệnh thanh toán cho một số dịch vụ công cộng như: trả tiền điện, nước, điện thoại. Đến năm 1995, e-banking chính thức triển khai với sự tham gia hợp tác của 16 Ngân hàng lớn tại Mỹ. Khi đó, khách hàng chỉ cần máy vi tính, một modem và phần mềm là có thể sử dụng dịch vụ.
nay, dịch vụ e-banking đã và đang được nhân rộng ra ngoài nước Mỹ đến các châu. Ở các nước phát triển dich vụ này trở nên khá quen thuộc với khách hàng vì tính tiện lợi và hiệu quả của nó. Một cách quát, NHĐT hay chính xác hơn, các dịch vụ NHĐT là các dịch vụ ngân hàng mà các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng dựa trên quả trình xử: 1ý và chuyển giao dữ liệu số hóa [L]{2] 1.2 Sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử trên thế giới Kế từ khi ngân hàng WellFargo(Mỹ). ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng đầu tiên tại Mỹ đến nay, đã có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm, thành công cũng như thất bại trên con đường xây dựng một hệ thống c-banking hoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho khách hàng.
Tổng kết chung, e-banking được phát triển qua các hình thái sau: a. Brochure-ware: Đây là hình thái đơn giản nhất của e-banking. các ngân hàng khi mới bắt đầu xây dựng e-banking đều thực hiện theo hình thái này. Việc đầu tiên chính là xây dựng một website chứa những thông tin về ngân hàng, đưa sản phẩm lên trên mạng nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc.
Thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài những kênh. thông tin truyền thống khác như báo chí, truyền hình,. Mọi giao dịch của ngân hàng vẫn thực hiện qua hệ thống phân phối truyền thống, tức là qua các chỉ nhánh ngân hàng. E-commerce: Trong hinh thai thương mại điện từ, ngân hàng sử dụng Internet như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như cho phép sao kê thông tỉn tải khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán,.Intemet ở đây chỉ đóng vai trò như một địch vụ công thêm vào dé tạo sự thuận lợi thêm cho khách hàng.
Hầu hết các ngân hàng vừa và nhỏ. đang ở hình thái này._ E-bwssiness: Trong hình thái này, các xử lý cơ bản của ngân hang cả ở phía khách hàng và người quản lý đều được tích hợp với Intemet và các kênh phân phối khác. Giai đoạn này được phân biệt bởi sự gia tăng về sản phẩm. và chức năng của ngân hàng với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan.
hệ của khách hàng đối với ngân hàng. Hơn thế nữa, sự phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa hội sở ngân hàng và các kênh phân phối như chỉ nhánh, mạng Internet, mạng không dây. giúp cho việc xử lý yêu cầu và phục vụ khách hàng được nhanh chóng và chính xác hơn. Internet và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẻ thông tin giữa ngân hàng, đối tác, khách hảng và cơ quan quan lý.
E-bank(Emerprise): Chính là mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình. kinh doanh và phong cách quản lý. Những ngân hàng này sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính cho khách hàng với chất lượng tốt nhất. Từ những bước ban đầu là cung cấp các sản phâm và dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt.
[5] Để thúc đầy quá trình hội nhập, thu hút khách hàng cũng như giành giật cơ hội trong kinh doanh, hầu hết các ngân hàng trên thế giới không ngừng tăng cường và đưa ra các dịch vụ tiện lợi, nhanh gọn và được hỗ trợ mạnh mẽ của các công nghệ hiện đại như máy giao địch tự động (ATM), máy thanh toán tại các điểm bán hàng(POS), mạng lưới cung cắp dịch vụ ngân hàng thông qua mạng điện thoại, máy tính cá nhân,. Với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và truyền thông, của khoa. học kỹ thuật, của công nghệ như Internet, mạng thoại di động, mô hình ngân hàng với hệ thống quầy làm việc, những tòa nhà cao ốc, giờ làm việc hành chính 7, 8 gid sing dén 4, 5 gid chiéu(brick and mortar banking) dang dan duge cai tién va thay thế bằng mô hình ngân hang méi-NHDT (click and morta banking). Khing định bằng những thành công trong những năm qua, e-banking đã có những bước.
phát triển vượt bậc và trở thành mô hình tắt yếu cho hệ thống ngân hàng trong thế. Dưới đây là tình hình triển khai thực tế địch vụ e-banking của một số nước. trên thế giới: * E-banking tai Mỹ: Mỹ là nước di đầu trong việc phát triển dich vụ e-banking. Theo khảo sát mới đây nhất của Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED), việc sử dụng dich vu e-banking trở nên phổ biến rộng rãi, các sản phẩm và dịch vụ e-banking ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại để phục vụ nhu cầu của khách hàng.
Hầu hết các chủ ngân. hàng đều đã nhận thức rất rõ tầm quan trọng của e-banking, chỉ tính trong năm. 2000, lượng tiền đầu tư nhằm xây dựng hệ thống e-banking đã là 500 triệu USD và. tăng đến 2 tỷ USD vào cuối năm 2005.
Những ngân hàng lớn tham gia kinh doanh trực tuyến ngày càng nhiều, theo báo cáo của FDIC (Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ), số ngân hàng có tải sản dưới 100 triệu USD có cung cấp dịch vụ e- banking chỉ chiếm khoảng 5%, trong khi đó số ngân hàng có tài sản lớn hơn 10 tỷ USD cé dich vu e-banking chiém téi 84%. Vào thời điểm năm 2000, trong số Top 100 ngân hàng của Mỹ thì có 36% không có mặt trên mạng, 41% chỉ cung cấp thông tin và còn lại 23% là cung cấp. day đủ địch vụ ngân hàng trực tuyến.100 ngân hàng lớn nhỏ tại Mỹ cung cấp đầy đủ mọi dịch vụ ngân hàng qua mang, con sé nay tăng lên 1.200 vào cuối năm 2003 và sẽ đạt tới 3. * E-banking tại Anh và các nước Châu.
Âu khác: Phần lớn khách hàng tại Anh và Châu Âu sử dụng e-banking để xem số dư. tài khoản tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, kiểm tra giao dịch hằng ngày, đối chỉ. Nhờ đó các ngân hàng giảm chỉ phí hoạt động và thời gian làm việc của nhân viên tại các trung tâm liên lạc khách hàng (Call Center), các chỉ nhánh để trả lời khách hàng và thực hiện các giao dịch lặp đĩ lặp lại. Khách hàng cũng được hưởng.
lợi nhờ địch vụ nhanh, chính xác, đảm bảo sự riêng tư, tiết kiệm thời gian di lai. Ở Anh, theo khảo sát của BACS (The Banker Automated Clearing Service- “Trung tâm thanh toán liên ngân hàng, Anh), số người sử dụng dịch vụ này đã tăng. từ 3,5 triệu lên 7,8 triệu trong vòng hai năm. Số người thanh toán hóa đơn và chuyển tiền qua Internet hoặc điện thoại di động cũng tăng mạnh.2 triệu người thanh toán các loại chỉ phí và chuyển khoản theo con đường này, tăng 44% so với năm 2001 và đã có tổng cộng 72 triệu lượt người thanh toán trực tuyến, trong đó số người sử dụng thẻ tín dụng chiếm hơn một nửa.
* E-banking tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương: Theo hang nghién ctu Thuy Dién Berg Insight, khu vue Chau A-Thai Binh Duong được dự báo là thị trường quan trọng nhất với tỷ trọng 65% số lượng người dùng dịch vụ e-banking vào năm 2014. Hiện nay, dịch vụ e-banking đã sử dụng ở nhiều nước trong khu vực này và số lượng người sử dụng các loại dịch vụ này cũng. tăng dẫn qua các năm. * Tại Trung Q Ngân hàng Trung ương đã khuyến khích các dịch vụ e-banking từ năm.
Chính phủ cũng tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho các ngân hàng trong nước. tiến hành dịch vụ e-banking; tuy nhiên, mức độ phát triển của dịch vụ này ở Trung. Quốc chưa cao, số người sử dụng dịch vụ này còn ít vì các hoạt động trao đổi thông. tin qua mạng vẫn phải chịu sự theo dõi và kiểm duyệt của Chính phủ, do vậy đã khiến cho hoạt động này chưa phát triển mạnh mẽ.
* Tại Singapore: Chính phủ đã tuyên bố mục tiêu biến nước này trở thành một trong những. nước đứng đầu thế giới về điện toán hóa, làm cho CNTT thâm nhập vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Và đến năm 1997, tắt cả các cơ quan, công sở đều đã liên kết vào internet. Riêng về thanh toán điện tử, Singapore là một trong những nước áp.
dụng đầu tiên trên thể giới. Tháng 12/1996, nhân phiên họp cắp bộ trưởng WTO tổ chức ở Singapore, nước nay đã chính thức khai trương việc ứng dụng toàn diện các. loại thẻ tiền mặt internet, thẻ thông minh, thẻ mua hàng điện tử, túi tiền điện tử. Hệ thống giao dịch an toàn mang tính quốc tế, thành lập tháng 4/1997 đưa vào sử dụng.
toàn diện cuối năm 1998. Đến tháng 5/2002, hơn 28% người sử dụng internet vào. các trang web e-banking. Nghiên cứu của Netvalue(một công ty trên Internet) chỉ ra rằng trong khi số lượng người tham gia vào e-banking tại Singapore tăng lên, thời gian trung bình cho các trang web này giảm xuống xắp xỉ gần 4 lần từ tháng 3 đến tháng 5/2001.
Sự giảm xuống này có thể do yếu tố rằng nhiều khách hàng sử dụng thời gian để hoàn thành những giao dịch tốn ít thời gian hơn là vào các trang web. Tắt cả các ngân hàng chính ở Singapore có sự hiện diện internet. Những ngân hàng này đã chuyển từ sự tập trung ban đầu vào các dịch vụ ngân hàng bán lẻ sang. các công ty vừa và nhỏ và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các tô hợp công ty.
* Tại Thái Lan: Dich vu e-banking được cung cấp từ năm 1995. Đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, các ngân hàng Thái Lan chịu sức ép phải cắt giảm chỉ phí đã chuyển hướng sang đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ e-banking, coi đây là một giải pháp để giảm chỉ phí nhân công và tăng độ thỏa mãn của khách hàng.