Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất chè 1. Khái niệm về sản xuất và phát triển sản xuất chè Khái niêm sản xuất: Liên Hiệp Quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tài sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền.
Khái niệm phát triển: Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội. Khái niệm phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Khái niệm phát triển kinh tế bền vững: Theo ngân hàng Thế giới (WB), 1987 khái niệm phát triển bền vững được đề cập đến lần đầu tiên đó là “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thể hệ tương lai”.
Ý nghĩa của việc phải triển sản xuất chè Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người. e 6 Sản phẩm chè hiện nay được tiêu dùng khắp các nước trên thể giới, kể cả những nước không trông chè cũng có nhu cầu lớn về chè. Ngoài tác dụng giải khát, chè còn có tác dụng khác như kích thích thần kinh làm cho thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể. Đồi với nước ta sản phẩm chè không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần tăng thu nhập cho người dân nói chung và người trồng chè nói riêng.
Đối với người dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phân lao động dư thừa nhất là ở vùng nông thôn. Nếu so sánh cây chè với các loại cây trồng khác thì cây chè có giá trị kinh tế cao hơn hẳn, vì cây chè là loại cây công nghiệp nâu năm, có chu kì kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng 30 - 40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kì này còn kéo dài hơn nữa. Đối với đồng bào dân tộc, kinh tế khó khăn, cây chè có ý nghĩa rất lớn trong công tác xóa đói, giảm nghèo. Bởi vì cây chè có thời gian thu hoạch trong năm kéo dài (Từ tháng 3 cho đến tháng 10 hàng năm), nên việc giải quyết khó khăn về kinh tế hộ gia đình có hiệu quả tức thì.
Mặt khác chè là cây trồng không tranh chấp đất đai với cây lương thực, nó là cây trồng thích hợp với các vùng đất trung du và miền núi. Chính vì vậy cây chè không chỉ mang giá trị về kinh tế mà còn góp phần cải thiện môi trường, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Nếu kết hợp trồng rừng theo phương thức Nông - Lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đai xanh chống xói mòn rửa trôi, góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững, mặt khác cũng giúp người dân tăng thêm thu nhập. Chè là một thế mạnh của Việt Nam, vì Việt Nam là một trong những nôi trồng chè của Thế Giới không thua kém chất lượng chè vùng Maldora (Ấn Độ) và vùng cao nguyên Srilanca.
Một số nhà doanh nghiệp Nhật Bản cho e 7 rằng với nguyên liệu chè Việt nam được chế biến bằng thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến sẽ tạo ra được loại chè tốt khả năng bán với giá gấp từ 1,2 -2 lần so với hiện nay. Ngoài ra chè còn là cây trồng có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái. Thêm nữa cây chè nếu được phát triển sẽ thu hút một số lượng lao động đáng kể, không chỉ ở khâu sản xuất nguyên liệu mà còn ở cả khâu chế biến và tiêu thụ. Phát triển ngành chè trước hết thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của nhân dân trong cả nước.
Chè là loại cây trồng đem lại giá trị xuất khẩu cao, hiện nay có khoảng hơn 40 quốc gia trồng chè, trong đó tập trung chủ yếu Ấn Độ, Trung Quốc, Kenya, Sri Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ, và Việt Nam (Shah, 2013). Sản lượng chè trên thế giới năm 2012 khoảng 4,8 triệu tấn, trong đó Trung Quốc đạt 1,7 triệu tấn và Việt Nam chỉ đạt 0,2 triệu tấn (FAO, 2014). Theo Báo cáo Hiệp hội Chè, năm 2014, Việt Nam xuất khẩu được 130 nghìn tấn, kim ngạch đạt 230 triệu USD, doanh thu 2.300 tỷ đồng, tiếp tục đứng ở vị trí thứ năm trên thế giới (Hiệp hội Chè, 2015). Như vậy, phát triển sản xuất chè đã và đang tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống ở khu vực nông thôn.
Nó góp phần vào việc thúc đẩy nhanh hơn công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giảm bớt chênh lệch về kinh tế xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng núi và đồng bằng. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên * Điều kiện đất đai Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt đối với cây chè, nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm (Bùi Huy Đáp - Nguyễn Điền,1998). Muốn chè có chất lượng cao và có hương vị đặc biệt cần phải trồng chè ở độ cao nhất định. Đa số những nơi trồng chè trên thế giới cần có độ cao e 8 cách mặt biển từ 500 đến 800 m.
Chè được trồng và phát triển chủ yếu ở vùng đất dốc, đồi núi, ở những vùng núi cao chè có chất lượng tốt hơn ở vùng thấp. Độ dốc đất trồng chè không quá 300m, đất càng dốc thì xói mòn càng lớn, đất nghèo dinh dưỡng chè không sống được lâu. Chè là loại cây thân gỗ dễ ăn sâu nên cần tầng đất dầy, tối thiểu 50 cm. Cây chè ưa các loại đất thịt và đất thịt pha cát có giữ độ ẩm tốt, thoát nước tốt.
Độ sâu mực nước ngầm phải sâu hơn thì chè mới sinh trưởng và phát triển tốt được vì cây chè cần ẩm nhưng sợ úng. Độ chua của đất là chỉ tiêu quyết định đời sống cây chè, độ chua PH thích hợp nhất là từ 4,5 - 5,5. Nếu độ chua PH dưới 3, lá chè xanh thẫm, có cây chết. Nếu độ chua trên 7,5, cây ít lá, vàng cằn.
Trồng chè ở các vùng đất trung tính hoặc kiềm cây chè chết dần. Ngoài ra thành phần dinh dưỡng cũng quyết định sự sinh trưởng và năng suất cây chè. Để cây chè phát triển tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu: Đất tốt, giàu mùn, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cho chè phát triển. * Điều kiện khí hậu: Cây chè thích nghi với các điều kiện khí hậu khác nhau.
Nhưng qua số liệu các nước trồng chè cho thấy, cây chè sinh trưởng ở những vùng có lượng mưa hàng năm từ 1000 - 4000 mm, phổ biến thích hợp nhất từ 1500 - 2000 mm. Độ ẩm không khí cần thiết từ 70 - 90%. Độ ẩm đất từ 70 - 80%. Lượng mưa bình quân tháng trên 1000 mm chè mọc tốt, ở nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp, chè thường được thu hoạch nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm.
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè. Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí dưới 10oC hay trên 40oC. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 22 - 28oC. Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân bắt đầu phát triển trở lại.
Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn tuỳ thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ. Tuy nhiên các giống chè khác nhau có mức độ chống chịu khác nhau [Chu Xuân Ái - Lê Trí Hải “Giáo trình kỹ thuật trồng trọt cây chè]. e 9 Cây chè vốn là cây thích nghi sinh thái vùng cận nhiệt đới bóng râm, ẩm ướt. Lúc nhỏ cây cần ít ánh sáng; một đặc điểm cũng cần lưu ý là các giống chè lá nhỏ ưa sáng hơn các giống chè lá to.
Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật * Giống chè: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm. Có thể nói giống là tiền đề năng suất, chất lượng chè thời kỳ dài 30- 40 năm thu hoạch, nên cần được hết sức coi trọng. Giống chè là giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được điều kiện sống khắc nghiệt và sâu bệnh. Nguyên liệu phù hợp chế biến các mặt hàng có hiệu quả kinh tế cao.
Cùng với giống tốt trong sản xuất kinh doanh chè cần có một số cơ cấu giống hợp lý, việc chọn tạo giống chè là rất quan trọng trong công tác giống. Ở Việt Nam đã chọn, tạo được nhiều giống chè tốt bằng phương pháp chọn lọc cá thể như: PH1, TRI777, 1A, TH3. Đây là một số giống chè khá tốt, tập trung được nhiều ưu điểm, cho năng suất và chất lượng búp cao, đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên diện tích rộng, bổ sung cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên các nương chè cằn cỗi. Bên cạnh đặc tính của các giống chè, phương pháp nhân giống cũng ảnh hưởng trực tiếp tới chè nguyên liệu.
Hiện nay có 2 phương pháp được áp dụng chủ yếu là trồng bằng hạt và trồng bằng cành giâm.