Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững và phát triển cây ăn quả 1. Khái niệm về phát triển Trong thế giới tự nhiên và các mối quan hệ xã hội, “Phát triển” được biểu hiện dưới nhiều quan niệm và trạng thái khác nhau; song nhìn chung lại “Phát triển” được hiểu là một thuật ngữ chứa đựng các chỉ tiêu phản ánh kết quả gia tăng, tiến bộ, sau quá trình vận động biến đổi của một hay nhiều hoạt động kinh tế - xã hội trong một giai đoạn, một thời kỳ nhất định. Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, cụ thể: Theo Ngân hàng thế giới (World Bank,1992): Phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người.
Theo MalcomGills - Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương: Phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế của nền kinh tế, sự tăng lên của các sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo e 6 ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên. Theo RaamanWeitz (1995): Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển, nhưng các ý kiến đều cho rằng đó là phạm trù vật chất, phạm trù tinh tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con người. Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân.
Khái niệm về phát triển bền vững Phát triển kinh tế là phương thức duy nhất và là điều kiện cơ bản để đạt tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của tất cả các dân tộc trên khắp thế giới. Nhưng trong quá trình phát triển hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho mình thì con người lại luôn tạo nên sự mâu thuẫn giữa các nhu cầu của chính mình như: Sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên; sự gia tăng dân số quá nhanh và hàng loạt những vấn đề xã hội khác nảy sinh; nạn ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu trái đất làm suy giảm, thủng tầng ô zôn dẫn tới hiện tượng hiện tượng Elninô, Lanina xảy ra thường xuyên và ngày càng dữ dội hơn. Những thách thức đó gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế và đe dọa sự tồn tại không phải chỉ của từng quốc gia riêng lẻ mà của cả cộng đồng quốc tế. Năm 1980, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên đã đưa ra “Chiến lược bảo toàn thế giới” với mục tiêu tổng thể là “đạt được sự phát triển bền vững, cách bảo vệ các tài nguyên sống”.
Trong quá trình phát triển kinh tế, khái niệm phát triển bền vững được hình thành và ngày càng được hoàn thiện hơn, cụ thể: Năm 1987, Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, đã đưa ra khái niệm “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai e 7 sau”. Đến năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển được tổ chức ở Cộng hoà Nam Phi đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 03 mặt của sự phát triển, đó là: Phát triển kinh tế; Phát triển xã hội; Bảo vệ môi trường (Trần Đăng Khoa, 2010) 1. Nội dung chủ yếu về phát triển bền vững - Phát triển bền vững về kinh tế: Phát triển kinh tế bền vững là sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế được thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế ổn định lâu dài và sự thay đổi về chất theo hướng tiến bộ của nền kinh tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao động, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế -xã hội và môi trường sống. Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng hàng hoá và dịch vụ trong một thời kì nhất định (thường là một năm).
Người ta thường dùng các thước đo: Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tính mức tăng trưởng tuyệt đối trên phạm vi nền kinh tế quốc dân hay theo mức hình quân đầu người về giá trị tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong một năm. Tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ có nghĩa là: Trong một thời kỳ, cơ cấu kinh tế có tỷ trọng của ngành nông nghiệp, công nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng giá trị và lao động của ngành dịch vụ ngày càng tăng nhanh và chiếm ưu thế. Nếu tăng trưởng kinh tế không dựa trên cơ sở chuyển dịch có cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, mà chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và bán sản phẩm thô thì không thể có phát triển bền vững (trường hợp một số nước vùng Trung Đông tăng trưởng kinh tế dựa vào bán dầu mỏ). Tăng trưởng kinh tế phải dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu, đồng thời phải làm tăng năng lực nội sinh.
Năng lực nội sinh được thể hiện ở những chỉ tiêu như: Chất lượng nguồn nhân lực, năng lực sáng tạo, công nghệ quốc gia, mức độ tích luỹ của nền kinh tế; mức độ hoàn thiện, e 8 hiện đại của hệ thống kết cấu hạ tầng…(Học viện chính trị quốc gia HCM, Khoa kinh tế phát triển-Hà Nội, 2005) - Phát triển bền vững về xã hội: Tăng trưởng kinh tế phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động. Có việc làm thì người lao động mới có quyền, thu nhập và các điều kiện tự hoàn thiện nhân cách của chính mình. Người lao động nếu không có việc làm, bị thất nghiệp sẽ không có thu nhập, dễ này sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội. Tăng trưởng kinh tế phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư như: thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ bình quân, tỷ lệ trẻ em sơ sinh tử vong, tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ Bác sĩ trên 1000 dân, tỷ lệ dân số được dùng nước sạch, tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được đi học.Liên hợp quốc đã đưa ta chỉ số phát triển con người (HDI), là chỉ số tổng hợp của ba chỉ số cơ bản: thu nhập bình quân đầu người, chỉ số về giáo dục (tỷ lệ % người lớn biết chữ) và chỉ số về y tế (tuổi thọ bình quân)… (Học viện chính trị quốc gia HCM, Khoa kinh tế phát triển-Hà Nội, 2005) - Phát triển bền vững về môi trường: Trong thực tế, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhiều doanh nghiệp, nhiều quốc gia đã không không chỉ khai thác cạn kiệt tài nguyên mà còn thải ra môi trường nhiều chất độc hại làm ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí, làm mất cân bằng sinh thái, mất đi sự đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu trái đất…đe doạ trực tiếp cuộc sống của con người hiện tại chứ chưa nói đến của thế hệ tương lai.
Vì vậy, nội dung của phát triển bền vững về môi trường là sự tăng trưởng kinh tế không làm ô nhiễm môi trường, không huỷ hoại môi trường: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với nuôi dưỡng và cải thiện chất lượng môi trường, nghĩa là: Bảo vệ rừng và trồng từng mới, trồng cây phân e 9 tán, trồng CAQ…chống sói mòn, tăng độ phì cho đất. Trong sản xuất, áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường; sáng tạo ra nhiều vật liệu mới thay thế vật liệu truyền thống; sử dụng vật tư, nguyên liệu vào sản xuất khoa học và hợp lý để bảo vệ lý tính, hoá tính của đất, tài nguyên nước; bảo vệ nguồn lợi hải sản… Tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên: Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên có nghĩa là: phải có kế hoạch lựa chọn, cân nhắc khi quyết định khai thác tài nguyên, xét cả về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Các yếu tố chủ yếu phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững - Lao động: Lao động là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đồng thời nó cũng là yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong phát triển kinh tế. Mặt khác, lao động là một bộ phận của dân số, cũng là những người được hưởng lợi ích của sự phát triển.
Suy cho cùng là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người. Nói đến nhân tố lao động thì phải quan tâm đến cả hai mặt số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực. (Học viện chính trị quốc gia HCM, Khoa kinh tế phát triển-Hà Nội, 2005) - Điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên là yếu tố tạo sở cho việc phát triển các ngành, cho quá trình tích luỹ vốn; đồng thời cũng là đối tượng sản xuất nông nghiệp. Cây trồng, vật nuôi có quá trình sinh trưởng và phát triển theo quy luật tự nhiên, trải rộng trên một phạm vi không gian rộng lớn.
Cho nên chúng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên. (Học viện chính trị quốc gia HCM, Khoa kinh tế phát triển-Hà Nội, 2005) - Kinh tế (vốn đầu tư): Vốn đầu tư là một trong những yếu tố cơ bản, quan trọng đối với mọi hoạt động của một nền kinh tế. Vốn là chìa khoá đối với sự phát triển bởi lẽ phát triển về bản chất được coi là vấn đề bảo đảm đủ các nguồn vốn đầu tư để đạt được một mục tiêu tăng trưởng. Thiếu vốn, sử e 10 dụng vốn kém hiệu quả được đánh giá là một cản trở quan trọng nhất đối với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và bố trí kế hoạch sản xuất kinh doanh.