LỜI MỞ ĐẦU Thành phố Đà Nẵng ở vào trung độ của đất nước, nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ (quốc lộ 1A), đường sắt, đường biển và đường hàng không. Quốc lộ 14B nối cảng biển Tiên Sa, Liên Chiểu đến Tây Nguyên và trong tương lai gần nối với hệ thống đường xuyên Á qua Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan, Myanma. Đà Nắng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước trên đến các nước vùng Đông Bắc Á. Những năm tới khi thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư khu vực ASEAN thì vị trí địa lý của thành phố cảng là một lợi thế quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố Đà Nắng mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng Duyên Hải, Tây Nguyên, cả nước và với nước ngoài, là tiên để quan trọng góp phần để các ngành kinh tế của thành phố phát triển, tạo lực để thành phố trở thành một trong những trung tâm phát triển của Vùng trọng điểm miền Trung.
Đồng thời chính yếu tố vị trí địa lý này cũng đặt ra những thách thức phải vượt qua để phát triển nhanh nền kinh tế, nhất là những ngành mũi nhọn theo thế mạnh đặc thù có ý nghĩa thúc đẩy phát triển 2 kinh tế - xã hội thành phố Đà Nắng nói riêng và vùng trọng điểm miền Trung nói chung. Với những lợi thế nêu trên, Đà Nắng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển tổng hợp kinh tế biển, từng bước trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của vùng, là 1 trong 3 trung tâm kinh tế biển lớn nhất của cả nước, đông thời làm bàn đạp để phát triển mạnh khai thác các vùng. Do đó Sở Kế hoạch và Đầu tư chọn để tài “Những giải pháp cơ bản nhằm phát triển bền vững và có hiệu quả kinh tế biển thành phố Đà Nắng” với mục đích tạo ra những căn cứ khoa học cho việc hoạch định các chủ trương chính sách phát triển, các kế hoạch đầu tư và hợp tác, đồng thời đón nhận cơ hội đẩy nhanh quá trình phát triển, từng bước đưa Đà Nắng trở thành một thành phố mạnh về biển. Đây là một đề tài phạm vi nghiên cứu tương đối rộng, nhóm tác giả đã cố gắng nghiên cứu tài liệu về hiện trạng và đề xuất một số định hướng, giải pháp cơ bản nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế biển của Đà Nắng phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian sắp đến.
Song do phạm vi nghiên cứu rộng, thời gian đầu tư chưa được nhiều nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Kính mong Hội đồng khoa học và các ngành đóng góp thêm ý kiến bổ sung, Ban chủ nhiệm đề tài xin tiếp thu và sửa chữa. PHẦN THỨ NHẤT TỔNG QUAN VAI TRÒ BIỂN VÀ KINH TẾ BIỂN ĐỐI VỚI KINH TẾ ĐÀ NẴNG 1. Khái niệm kinh tế biển Kinh tế biển là sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế trên biển với các hoạt động kinh tế trên đất liền ven biển, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò vùng khai thác nguyên liệu, cho hoạt động vận tải, hoạt động du lịch trên biển, còn hầu hết các hoạt động tổ chức sản xuất, chế biến, hậu cần dịch vụ phục vụ cho khai thác biển lại nằm trên đất liền.
Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật trong mấy thập kỷ gần đây cho phép con người có thể khai thác, sử dụng nhiều loại tài nguyên thiên nhiên của biển và đại dương. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến kinh tế biến Do những ưu thế về vị trí địa lý, những lợi thế về tài nguyên và chi phí sản xuất, vùng ven biển Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, thương mại, du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài và hợp tác quốc tế. Việt Nam là một nước nằm ở rìa biển Đông, một biển lớn có tầm quan trọng thứ hai trên thế giới (sau Địa Trung Hải) và là một bộ phận quan trọng của Châu Á - Thái Bình Dương với diện tích vùng biển gấp 3 lần điện tích đất liền, biển và ven biển Viêt Nam là "mặt tiền" của đất nước để thông ra biển Thái Bình Dương, mở ra nước ngoài. Vì vậy biển và vùng ven biển Việt Nam có vị trí cực kỳ quan trọng về các mặt kinh tế, an ninh quốc phòng trước mắt cũng như lâu đài.
Mối quan hệ giữa vùng ven biển và các vùng khác của nước ta Với bờ biển dài, bao lấy lãnh thổ ở cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam, không một nơi nào trên đất nước ta cách xa bờ biển hơn 500 km. Vì vậy, vùng ven biển có ảnh hưởng trực tiếp tới các vùng khác của đất nước. Hầu hết các đô thị lớn của cả nước, các vùng kinh tế trọng điểm và kết cấu hạ tầng khá tốt đều tập trung ở dãi ven biển. Sự hình thành mạng lưới cảng biển (trong đó có nhiều cảng nước sâu) cùng với các tuyến đường không, đường bộ, đường sắt dọc ven biển và các tuyến ngang nối các tỉnh trong vùng ven biển với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là hệ thống đường xuyên Á, các hành lang Đông Tây) cho phép vùng ven biển nước ta trở thành vùng trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu lớn nhất tới mọi vùng khác của Tổ quốc, đồng thời còn là địa bàn rất thuận lợi trong việc tiếp nhận nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài để làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các vùng khác trong cả nước.
Mối quan hệ giữa vùng ven biển với các nước trong khu vực Thời đại ngày nay, xu hướng liên kết, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu đã trở thành sức sống và nguồn sống của rất nhiều nền kinh tế quốc gia. Hầu hết các quốc gia có biển đều dựa vào vùng ven biển để làm động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn lãnh thổ quốc gia. Hiện nay Việt Nam đã gia nhập ASEAN, ký hiệp định thương mại với Mỹ (đã có hiệu lực) và đang nỗ lực đàm phán để gia nhập WTO vào khoảng năm 2004. Quá trình tự do hóa thương mại đang diễn ra sâu rộng và sẽ tác động mạnh mẽ tới sự-phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là kinh tế vùng ven biển.
Do vậy vùng ven biển phải luôn được coi là một địa bàn chiến lược quan trọng trong hoạch định chính sách và xây dựng cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu, đẩy mạnh sự hợp tác kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam có biển nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cạn Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Biển Đông đóng vai trò là chiếc cầu nối cực kỳ quan trọng, là điều kiện thuận lợi để giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, vốn đang được coi là khu vực phát triển năng động nhất và đang dân trở thành một trung tâm "kinh tế lớn của thế giới. Sự ra đời của hàng loạt các nước công nghiệp mới đã và đang tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế Việt Nam, trước hết là thông qua vùng biển và ven biển.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế của các quốc gia có biển ở Châu Á, một điều đễ nhận thấy là chiến lược phát triển và chính sách của các quốc gia có biển ở Châu Á đều coi không gian biển và ven biển là một không gian tạo ra những đột phá trong hoạch định và xây dựng cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu. Việt Nam đang nỗ lực rất cao theo xu hướng ^ này. Các yếu tố nguồn lực phát triển Vị trí chiến lược của biển, vùng ven biển và hải đảo có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế - chính trị và quốc phòng an ninh quyết định sự phát triển của thành phố. Vùng biển thành phố trải dài 70 km là địa bàn rất thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển với tốc độ nhanh.
Rõ ràng vùng ven biển và biển có nhiều lợi thế hơn hẳn so các vùng khác trong nội địa để phát triển nhanh và năng động, làm động lực thúc đẩy kinh tế xã hội thành phố phát triển. Khả năng phát triển cảng và vận tải biển là yếu tố cơ bản, là cửa ngỏ 6 và nguồn lực rất quan trọng để liên kết các ngành và phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Bờ biển có nhiều khu vực lợi thế để xây dựng cảng (Cảng Đà Nắng, Cảng Tiên Sa, Cảng Liên Chiểu), việc hình thành cảng hợp lý sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành dịch vụ, các khu công nghiệp và các ngành công nghiệp gắn với cảng, phục vụ phát triển kinh tế và tăng cường quốc phòng. Tài nguyên du lịch phong phú và đặc sắc, bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn là ưu thế của vùng biển, ven biển.
Tại các khu vực như Sơn Trà, Non Nước, Nam Ô, Xuân Thiểu có thể hình thành các quần thể du - lịch - thể thao - nghỉ dưỡng biển hiện đại tầm cỡ quốc tế với nhiều loại hình hoạt động hấp dẫn. Tài nguyên hải sản đa dạng và phong phú là thế mạnh đặc trưng của biển. Với nguồn lợi thuỷ sản vùng biển Đà Nắng có trữ lượng lớn về cá tôm, tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng, nguồn lợi hải sản xa bờ và lân cận chưa đánh giá rõ ràng nhưng có nhiều triển vọng để mở rộng khai thác. Nguồn nhân lực dồi đào là yếu tố phát triển cơ bản lâu dài và có ý nghĩa quyết định.
† PHẦN THỨ HAI THỰC TRẠNG KINH TẾ BIỂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1. Tổng quan về Đà Nẵng Đà Nắng có diện tích tự nhiên 1256,3 km”, dân số năm 2001 là 728.823 người, chiếm 0,39% diện tích và 0,93% dân số cả nước. Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp biển Đông. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động.
Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình hàng năm trên 25°C. Đà Nắng ở vào trung độ của cả nước, nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ (quốc lộ 1A), đường sắt, đường biển và đường hàng không.