Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao kết trục lợi trong kinh doanh. Chương 2: Thực trạng giao kết trục lợi và pháp luật về chống giao kết trục lợi ở Việt Nam. Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp pháp lý cơ bản nhằm phòng, chống giao kết trục lợi. H CHUONG | NHỮNG VAN DE LY LUẬN VE GIAO KẾT TRỤC LỢI TRONG KINH DOANH 1.
KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ NGUYÊN NHÂN CUA GIAO KẾT TRỤC LỢI 1. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT a) Giao kết trục lợi trong kinh doanh Trong nền kinh tế, các chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh thông qua các giao dịch, ký kết và thực hiện các hợp đồng để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của mình. Các chủ thể đó có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Vấn đề đặt ra là, pháp nhân không thể tự mình đưa ra các quyết định, tự mình tiến hành các giao kết hợp đồng, mà phải thực hiện thông qua người đại diện (đại diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền) và như vậy, liệu có phải lúc nào những người này cũng thể hiện một cách đây đủ, chính xác, tuyệt đối trung thành với ý chí của chủ thể đã ủy quyền cho mình? Lé bình thường, những người thay mặt doanh nghiệp, đứng ra ký kết và thực hiện các hợp đồng, phải trung thành với lợi ích của doanh nghiệp, phải quan tâm đầy đủ và trước hết đến lợi ích của đơn vị mình trong phạm vi và khả năng có thể.
Nhưng do không là chủ sở hữu đích thực, người trực tiếp tiến hành các hoạt động này nhiều khi không có lợi ích kinh tế cụ thể từ những giao dịch mà mình tiến hành, hoặc chỉ được hưởng một phần rất nhỏ so với khả năng họ có thể san sẻ cơ hội, thông đồng với đối tác để mang lại lợi ích riêng. Vì vậy, tình trạng xẩy ra là, người đại diện, bằng vi trí và thẩm quyền của mình được giao để phụng sự nhiệm vụ, đã cố tình làm hạn chế, làm thiệt hại quyền lợi của chủ thể đã uỷ thác trách nhiệm cho mình, để mang lại lợi ích lớn hơn cho chủ thể khác, chuyển dịch lợi ích của doanh nghiệp mình đang quản lý sang doanh nghiệp khác, nhằm "trích xuất nguồn lợi" đó ra, cùng 12 nhau chiếm hưởng. Đó là những giao dich tư lợi, giao dịch "ngầm" hay còn gọi là giao kết trục lợi. ` Mục đích sinh lợi là yếu tố không thể thiếu của hoạt động kinh doanh, nhưng do yếu tố trục lợi chi phối, người tham gia giao dịch đã gây thiệt hại cho cơ quan, đơn vị mình để hưởng lợi riêng.
Cách thức hưởng lợi có thể bằng các hợp đồng bán tài sản, hàng hoá của doanh nghiệp thấp hơn giá thị trường hoặc mua hàng hoá, vật tư cho doanh nghiệp với giá cao hơn; cũng có thể là chấp nhận thiệt thòi về đơn vị mình, tạo lợi nhuận cao cho đối tác để được chia lại. Hình thức tiêu cực này càng dễ xuất hiện khi tiến hành những giao dịch có sự xung đột về lợi ích, như giao dịch giữa doanh nghiệp với người quản lý doanh nghiệp hoặc với công ty mà người này có lợi ích hay cổ phần chi phối; giao dịch giữa doanh nghiệp với người thân (bố, mẹ, anh chị em) của người quản lý doanh nghiệp hoặc với công ty của những người thân này; giao dịch giữa công ty với các cổ đông chiếm cổ phần lớn trong công ty; giữa công ty mẹ với công ty con hay giữa các công ty con trong cùng một công ty mẹ. Khi tham gia vào các giao dịch như thế, những người trực tiếp quyết định hoặc có ảnh hưởng đến việc ra các quyết định, đều có thể trực tiếp hay gián tiếp thu lợi từ các giao dịch nói trên, bằng cách san sẻ bớt lợi ích của doanh nghiệp mà mình đang đại diện, cho các doanh nghiệp mà mình có mối quan hệ hay lợi ích hiên quan. Vì vậy, khả năng xảy ra thiệt hại cho Nhà nước, cho công ty, cho chủ nợ và cho cổ đông là rất lớn.
Giáo sư Aoki Masahiko (Đại học Stanford Mỹ) đã minh chứng tình trạng này qua phân tích về việc những người nắm quyền quản lý kinh doanh, xâm phạm quyền lợi của người xuất vốn để thu lợi riêng cho mình. Với thủ pháp kinh điển là: cá nhân tiêu dùng công quỹ dưới hình thức lẫn lộn với nhu cầu công việc; thu nhập nhờ lãi giả theo kiểu “tuần hoàn ngoài cơ thể” xí ' Trục lợi: Kiếm lợi riêng một cách không chính đáng - Từ điển Tiếng Việt - NXB Đà Năng - trang 1012 13 nghiệp, biểu hiện thành “giám đốc nhận lãi, xí nghiệp chịu lỗ, ngân hàng cho vay, nhà nước mang nợ; dưới hình thức “công ty cha - con” chiếm dụng, lạm dụng vốn công hữu; công khai hoặc dấu mặt dùng người thân mở xí nghiệp tư nhân để tiến hành buôn bán với xí nghiệp do mình quản lý, thực hiện việc di chuyển lợi nhuận; định giá thấp vốn công hữu trong quá trình cổ phần hoá để mua cổ phiếu nội bộ giá rẻ. Do bộ phận quyền sở hữu nay hợp nhất với quyền kinh doanh, cùng với việc "khống chế người bên trong”, làm cho các xí nghiệp lẽ ra phải do Nhà nước khống chế, thì lại là đầu tư của Nhà nước do người kinh doanh khống chế [44,1 11]. Bản thân việc trao quyền đã chứa trong nó khả năng chuyên quyền, lạm quyền.
Người được trao quyền luôn có khuynh hướng muốn tự tăng cường hơn nữa quyền lực của mình và kéo theo là những mưu lợi cá nhân bám vào quyền lực đó. Quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp trong nhiều trường hợp đã bị lam dụng, hay nói chính xác hơn là bị "thoán đoạt”, tạo cho quyền giám đốc quá lớn, cố tình lẫn lộn vai trò, quyền hạn của chủ thể với người đại diện. Thiệt hại thì doanh nghiệp chịu, nhưng giám đốc lại toàn quyền quyết định, coi doanh nghiệp như của riêng mình. Sự trao quyền, uỷ quyền trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một mặt tạo nên động lực phát huy sáng kiến của con người, bảo vệ quyền tự do, tự chịu trách nhiệm cá nhân, nhưng mặt khác, vừa là cơ chế tạo ra cơ hội theo đuổi những lợi ích cá nhân và thực hiện những lợi ích ấy trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
Giao kết trục lợi chính là sự kết hợp giữa việc lợi dụng quyền lực được trao (sự lạm quyền) và quan hệ thị trường. Thị trường đặt các doanh nghiệp vào môi trường tự do hoạt động nhất định, một số cá nhân được uy quyền để thực hiện. Nếu quyền được trao không đúng mức hoặc không có cơ chế hữu hiệu chế ước và giám sát việc sử dụng quyền này, thì người được trao quyền có cơ hội lạm dụng quyền lực tác động vào thị trường để phục vụ ý đồ cá 14 nhân. Sự tác động này làm cho hợp đồng đích thực trở nên méo mó, biến hợp đồng của pháp nhân thành hợp đồng cá nhân.
Giao kết trục lợi cũng là vấn đề nẩy sinh trong mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh. Quyền sở hữu tài sản trong các doanh nghiệp thuộc về Nhà nước hoặc thuộc về tất cả các cổ đông góp vốn, người quyết định chi tiền nhiều khi chỉ là người đại diện hoặc người làm thuê để khai thác, sử dụng tài sản đó. Trong khi những người này có đầy đủ thông tin thị trường và hoạt động của doanh nghiệp, thì người chủ thực sự lại khó có điều kiện nắm bắt thông tin, không giám sát được hành vi của người thực hiện. Vì vậy, người quản lý có cơ hội chuyển dịch lợi ích của Nhà nước, của tập thể thành lợi ích riêng, bằng nhiều hình thức: chuyển dịch cơ hội kinh doanh, thực hiện các giao dịch gia tạo và các hành vi tham nhũng.
Khi người có quyền kinh doanh, quyền ra quyết định mà lại không phải là chủ sở hữu đích thực, hoặc quyền được giao quá lớn so với phần sở hữu mà người đó có, thì dễ dẫn đến lợi dụng quyền lực để tìm kiếm lợi ích riêng từ nguồn tài sản của chủ thể mà mình đang nắm giữ. Trong quan hệ hợp đồng này, yếu tố trục lợi xuất hiện ở cả hai phía giao kết. Nó là kết quả của sự thoả thuận trước của đôi bên để cùng nhau chiếm hưởng lợi ích lẽ ra thuộc về chủ thể khác (chủ thể đã uỷ quyền), chứ không phải chỉ một bên vụ lợi, còn bên kia là bị nhầm lẫn, lừa đối, hay vô tình. Hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cũng giống như cuộc sống của con người, bao gồm hàng loạt các giao dịch, các mối quan hệ với nhiều chủ thể khác nhau.
Các hình thức sở hữu trong nền kinh tế tuy có độc lập tương đối và có bản chất riêng, nhưng cùng tiến hành hoạt động kinh doanh trong môi trường chung, cùng chịu sự tác động của các nhân tố, các quy luật thị trường, nên giữa các thành phần kinh tế sẽ tác động lẫn nhau, cả tích cực và tiêu cực. Trong môi trường đó, rất dễ có điều kiện làm xuất hiện, nảy nở, phát sinh các giao kết trục lợi. 15 Có thể thấy, giao kết trục lợi là việc công được làm theo lối tư, là việc tư được tiến hành thông qua việc công, là lợi ích cá nhân được thực hiện nhân danh tập thể, là cố tình lẫn lộn chung - riêng, tạo nên một "hệ thống tuần hoàn” bên ngoài doanh nghiệp để tập thể làm, một nhóm người hưởng thụ, nhà nước xuất vốn, cá nhân thu lợi. Tóm lại, giao kết trục lợi là việc người đại diện của các pháp nhân, cá nhân nhân danh lợi ích của chủ thể mà mình đại diện, tiến hành các giao kết hợp đông, nhưng lại làm thiệt hại đến lợi ích của chủ thể đã uỷ quyền, nhằm trích xuất nguồn lợi đó để đem lại lợi ích riêng cho bản thân, cho "nhóm" hay cho người thân của mình.
b) Bản chất và đặc trưng của giao kết trục lợi Tất cả các giao dịch dân sự hay kinh tế đều có điểm chung nhất, tạo thành bản chất của giao dịch, đó là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong, ý chí đó được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định. Trong quan hệ đầu tư, kinh doanh, hình thức biểu hiện ý chí của các chủ thể khi tham gia giao dịch là các hợp đồng và chủ yếu là hợp đồng kinh tế. Hợp đồng là thoả thuận và phải là thoả thuận thực sự, phản ánh đúng thực chất mong muốn bên trong của các bên giao kết.