MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự hội nhập và phát triển kinh tế hiện nay, ngày càng có nhiều hơn những tác động mạnh mẽ và sự cố tiêu cực từ các hoạt động sản xuất của con ngƣời và từ thiên nhiên ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng tự nhiên. Trong đó việc suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH), sự biến đổi các hệ sinh thái (HST) đƣợc xem là một vấn đề quan tâm hàng đầu hiện nay. Một trong những nguyên nhân có sức ảnh hƣởng nhất tới đa dạng sinh học chính là sự xâm nhập, lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển.
Theo Công ƣớc quốc tế Đa dạng sinh học (CBD) “xâm hại của các sinh vật ngoại lai chính là một trong những nguyên nhân chính gây mất đa dạng sinh học, ảnh hƣởng tới sự phát triển của các ngành kinh tế quan trọng nhƣ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và tới sức khỏe con ngƣời. Chúng tác động tiêu cực đến hệ động thực vật bản địa, gây hại môi trƣờng và làm thiệt hại kinh tế địa phƣơng”. Sinh vật ngoại lai xâm hại có mặt trong tất cả các nhóm phân loại chủ yếu, bao gồm các loài vi rút, nấm, tảo, rêu, dƣơng xỉ, thực vật cao, động vật không xƣơng sống, cá, lƣỡng cƣ, bò sát, chim và thú. Sự xâm lấn và lan rộng của sinh vật ngoại lai có thể dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài, tác động tiêu cực tới hệ thống nông nghiệp, kinh tế - xã hội và sức khỏe của con ngƣời.
Ở Việt Nam, tuy chƣa có đánh giá đầy đủ về tác động của sinh vật ngoại lai, nhƣng SVNL đã và đang gây nên những ảnh hƣởng không nhỏ đến tổn hại kinh tế và môi trƣờng ở nhiều vùng trong cả nƣớc. Hiện nay, các loài sinh vật ngoại lai (SVNL) vẫn tiếp tục đƣợc nhập vào nƣớc ta qua nhiều con đƣờng khác nhau nhƣng không đƣợc kiểm soát một cách chặt chẽ. Chính vì vậy, sinh vật ngoại lai xâm hại đang đề ra những bài toán nan giải về cách thức quản lý và kiểm soát chúng một cách hiệu quả để đảm bảo các cam kết trong Công ƣớc quốc tế Đa dạng sinh học(CBD), đảm bảo vốn đa dạng sinh học bền vững. Thực hiện Quyết định số 1896/QĐ-TTg ngày 17/02/2012 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại ở Việt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Nam đến năm 2020, Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp với các Sở, ban, ngành; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thực hiện đánh giá sơ bộ về các loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
Qua thống kê, đánh giá cho thấy trên địa bàn các huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang đã xuất hiện một số loài sinh vật ngoại lai xâm hại, trong đó huyện Na Hang mới chỉ điều tra đánh giá đƣợc 1,2 điểm điển hình trên địa bàn huyện nên số liệu thống kê, đánh giá chƣa đƣợc đầy đủ và chi tiết đến từng vùng của huyện Na Hang. Na Hang là huyện miền núi, nằm về phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, tổng diện tích tự nhiên là 86.353,7 ha, trong đó đất lâm nghiệp có rừng 75.134ha chiếm 87,01% tổng diện tích tự nhiên , với đặc trƣng là rừng mƣa nhiệt đới gió mùa thƣờng xanh đã mang lại cho huyện những lợi thế lớn về nghề rừng, chăn nuôi và trồng trọt. Với lợi thế địa hình, đất đai, thổ nhƣỡng và khí hậu, hệ sinh thái đa dạng, có nhiều loài động vật, thực vật đặc hữu. Đồng thời với các điều kiện nhƣ vậy cũng tạo điều kiện cho các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn và phát triển.
Chính vì vậy việc thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp ngăn chặn, kiểm soát một số loài sinh vật ngoại lai xâm hại trên địa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần phát triển bền vững kinh tế xã hội của địa phƣơng. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu sự phân bố, ảnh hƣởng của một số sinh vật ngoại lai xâm hại đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trƣờng, đa dạng sinh học. - Đề xuất các giải pháp để quản lý, kiểm soát, ngăn ngừa và diệt trừ một số loài sinh vật ngoại lai xâm hại phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phƣơng, đảm bảo an toàn sinh học. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3.
Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu đề tài nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ công tác chuyên môn trong công tác quản lý tài nguyên môi trƣờng và đa dạng sinh học. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 - Là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý sinh vật ngoại lai. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là thông tin giúp cơ quan quản lý nhà nƣớc tại địa phƣơng tham khảo, xây dựng kế hoạch, lồng ghép vào các chính sách về quản lý đa dạng sinh học, kiểm soát sinh vật ngoại lai. - Các giải pháp đề xuất của đề tài là thông tin giúp địa phƣơng áp dụng để quản lý, kiểm soát, ngăn ngừa, diệt trừ một số loài sinh vật ngoại lai xâm hại phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phƣơng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ môi trƣờng ngày 23/6/2014. - Luật đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 13/11/2008. - Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004.
- Quyết định số 1250/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày 31/07/2013 phê duyệt Chiến lƣợc quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. - Quyết định số 1896/QĐ-TTg ngày 17/02/2012 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Đề án ngăn ngừa và kiểm soát SVNL xâm hại ở Việt Nam đến năm 2020. - Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 13/9/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2013-2020 định hƣớng đến năm 2030. - Thông tƣ liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 26/09/2013 quy định tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và ban hành danh mục loài ngoại lai xâm hại.
- Thông tƣ số 35/2018/TT-BTNMT ngày 28/12/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng Quy định tiêu chí xác định và ban hành Danh mục loài ngoại lai xâm hại. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Sinh vật ngoại lai Theo Công ƣớc quốc tế về ĐDSH (CBD) cho rằng: “SVNL là loài, phân loài hay đơn vị phân loại thấp hơn đƣợc đƣa ra khỏi vùng phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bất kỳ của sinh vật nhƣ các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chồi mầm của những loài này có thể sống sót và sau đó sinh sản đƣợc”. Theo IUCN (2003), sinh vật ngoại lai là một loài, phân loài hoặc một taxon thấp hơn, kể cả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 bất kỳ bộ phận, giao tử hoặc chồi mầm có khả năng sống sót và sinh sản, xuất hiện ngoài vùng phân bố tự nhiên trƣớc đây và phạm vi phát tán tự nhiên của chúng.
Theo đó, tại khoản 18 điều 3 Luật đa dạng sinh học Việt Nam năm 2008 định nghĩa “Loài ngoại lai là loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trƣờng sống tự nhiên của chúng”. Theo Hội BVTN&MT Việt Nam (VACNE), SVNL có nguồn gốc từ một khu vực, du nhập đến khu vực khác bằng nhiều con đƣờng khác nhau, nhƣ: phát tán tự nhiên, du nhập có chủ đích (Du nhập có chủ đích đƣợc phép, du nhập có chủ đích không đƣợc phép), du nhập không chủ đích (ngẫu nhiên). Loài xâm hại Thuật ngữ này trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên những cách định nghĩa đều xuất phát từ các khía cạnh kinh tế, xã hội khác nhau. Có những định nghĩa chỉ dành cho thực vật nhƣ Crink và Fuller (1995): “Loài thực vật xâm hại là một loài thực vật ngoại lai phát tán một cách tự nhiên (không có sự hỗ trợ trực tiếp của con ngƣời) trong nơi ở tự nhiên hay bán tự nhiên và gây ra sự thay đổi đáng kể về thành phần, cấu trúc hay các quá trình sinh thái”; hay Richardson và nnk (2001): “Thực vật xâm hại là những loài thực vật tự nhiên sinh ra thế hệ con cái có khả năng tái sinh với số lƣợng lớn ở cách xa nơi ở của bố mẹ và có khả năng phát triển trên vùng rộng”.
Hay theo NARO (2009),“sinh vật xâm hại là những loài đã tạo lập quần thể và tự phân tán, hoặc có tiềm năng tạo lập quần thể và phát tán ở ngoài vùng phân bố tự nhiên và sau đó đe doạ các HST, nơi ở của các loài khác hoặc đe doạ loài khác, có tiềm năng gây hại về kinh tế và môi trƣờng, có hại có sức khoẻ con ngƣời”. Nghĩa là những loài động thực vật du nhập vào vùng bản địa và nhanh chóng sinh sôi và phát triển một cách khó kiểm soát trở thành một hệ động thực vật thay thế và đe doạ nghiêm trọng đến hệ động thực vật bản địa và sự tồn tại của môi trƣờng hệ sinh thái bản địa. Theo các nghiên cứu, phần lớn các loài xâm hại là loài ngoại lai, nhƣng không phải loài ngoại lai nào cũng là loài xâm hại. Mặt khác, loài bản địa cũng có thể trở thành loài xâm hại trong điều kiện có những sự thay đổi của môi trƣờng (nhƣ sự chăn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thả quá mức, hoả hoạn, thay đổi chế độ dinh dƣỡng, sự chiếm cứ nơi ở của một số loài xâm lấn,…), ví dụ nhƣ loài keo bản địa của Uganda là Acacia hockii, loài này đã trở thành loài xâm hại ở nhiều vùng đất đồng cỏ bởi khi số lƣợng các động vật lớn tại đây suy giảm đã là tác nhân tự nhiên kìm hãm đối với loài keo này (NARO, 2009).