Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động khu vực nông thôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn tại Việt Nam. Thực tiễn cho thấy tốc độ gia tăng dân số nông thôn vẫn ở mức cao trong khi quỹ đất canh tác nông nghiệp có xu hướng thu hẹp do quá trình đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng, khiến diện tích đất sản xuất bình quân trên đầu người ngày càng suy giảm. Bên cạnh đó, đặc thù sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, kết hợp với tư liệu sản xuất hạn chế làm cho số ngày công lao động hữu ích trong năm của người nông dân đạt tỷ lệ thấp. Lực lượng lao động nông thôn phần lớn có trình độ học vấn chưa cao, thiếu đào tạo chuyên môn kỹ thuật bài bản, dẫn đến khả năng tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế, làm gia tăng tình trạng thiếu việc làm và gia tăng khoảng cách giàu nghèo.

Địa bàn xã Quang Minh nằm tiếp giáp trung tâm thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. Đây là xã có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trình độ canh tác chưa cao và tình trạng dư thừa lao động nông thôn đang đặt ra nhiều thách thức thực tiễn. Đề tài "Thực trạng và giải pháp nhằm giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn trên địa bàn xã Quang Minh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tế này.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Nghiên cứu thực trạng việc làm của lao động nông thôn tại xã Quang Minh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng nguồn lao động hợp lý hơn và nâng cao thu nhập cho người dân tại địa bàn trong thời gian tới.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá thực trạng việc làm của lao động nông thôn ở xã Quang Minh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
    • Xác định những thuận lợi, khó khăn trong tìm kiếm việc làm và nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu việc làm của người dân tại địa phương.
    • Đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn tại xã Quang Minh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến lao động và việc làm của người lao động nông thôn trên địa bàn xã Quang Minh.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Quang Minh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thực trạng lao động và việc làm giai đoạn 2015 - 2017; thời gian tiến hành khảo sát thực địa từ ngày 13/8/2018 đến ngày 23/12/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất của lao động như một hoạt động có mục đích sáng tạo ra giá trị sử dụng và là điều kiện cơ bản cấu thành đời sống loài người. Cơ sở pháp lý về việc làm được trích dẫn theo Điều 13 Chương 3 Bộ luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1994: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". Tác giả cũng sử dụng định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về thất nghiệp và công thức xác định tỷ lệ thất nghiệp:

$$\text{Tỷ lệ thất nghiệp} = \left(\frac{U}{L}\right) \times 100$$

(Trong đó: $U$ là số người không có việc làm; $L$ là tổng lực lượng lao động xã hội).

Khung lý thuyết của đề tài phân tích ba nhóm nhân tố chính tác động đến việc làm nông thôn: nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái (đất đai, vị trí địa lý); nhóm nhân tố dân số và chính sách vĩ mô (quy mô dân số, gia tăng tự nhiên); nhóm nhân tố giáo dục và công nghệ (chất lượng nguồn nhân lực, máy móc trang thiết bị). Đồng thời, tác giả tổng hợp cơ sở thực tiễn từ kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn tại Nhật Bản (chính sách cơ giới hóa nông nghiệp đạt 98% - 100% các khâu, mô hình xí nghiệp gia đình, phong trào "mỗi thôn làng một sản phẩm" OITA năm 1970) và Đài Loan (phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ nông thôn, nâng thu nhập bình quân đầu người nông nghiệp từ 122 USD năm 1952 lên 5.648 USD năm 1990). Ở trong nước, nghiên cứu gắn liền với việc rà soát các chính sách đất đai (Khoán 100, Khoán 10, Luật Đất đai năm 2003), chính sách tín dụng ưu đãi, Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 (Quỹ 120), Chương trình 327, và Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân xã Quang Minh, số liệu thống kê của Phòng Thống kê huyện Bắc Quang giai đoạn 2015 - 2017.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua quan sát thực tế và phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi được thiết kế sẵn.
  • Quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu điều tra được xác định theo công thức Slovin (1960) với độ tin cậy 90% và sai số cho phép $e = 10%$:

$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$

Với tổng số hộ toàn xã là $N = 2.268$ hộ, quy mô mẫu tính toán được là $n = 96$ hộ. Tác giả lựa chọn 3 thôn khảo sát đại diện theo địa hình và cơ cấu kinh tế: thôn Minh Thượng (32 hộ, khu vực đồng bằng ven trung tâm xã, chuyên trồng lúa màu và dịch vụ), thôn Lung Cu (32 hộ, mức độ phát triển trung bình) và thôn Thống Nhất (32 hộ, vùng nửa đồng bằng chuyên cây công nghiệp và lâm nghiệp như chè, keo, mía). Việc chọn mẫu cụ thể trong từng thôn áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tổ không lặp lại theo danh sách hộ.

  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Tổng hợp, thống kê mô tả, phân tích số liệu trên phần mềm Microsoft Excel và so sánh theo các hệ thống chỉ tiêu (cơ cấu lao động, tỷ suất sử dụng thời gian lao động, thu nhập bình quân/hộ, thu nhập bình quân/lao động, thu nhập bình quân/ngày công, thu nhập bình quân/khẩu).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Nội dung phần mở đầu tập trung luận giải tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nghịch lý gia tăng dân số và sự suy giảm đất sản xuất nông nghiệp tại xã Quang Minh. Phần này xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể), làm rõ ý nghĩa khoa học trong việc củng cố phương pháp nghiên cứu kinh tế nông nghiệp và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp cơ sở hoạch định chính sách giải quyết việc làm cho địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Phần tổng quan hệ thống hóa các định nghĩa học thuật về lao động, lực lượng lao động nông thôn, việc làm đầy đủ, thiếu việc làm và thất nghiệp theo quy chuẩn của Việt Nam và quốc tế. Tác giả phân tích tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến việc làm nông thôn. Đồng thời, chương này đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản và Đài Loan về phát triển công nghiệp nông thôn, cơ giới hóa quy mô nhỏ và đa dạng hóa ngành nghề truyền thống, kết hợp điểm lại hệ thống văn bản pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam về đào tạo nghề và giải quyết việc làm nông thôn (Đề án 1956, Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm 120).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này quy định rõ đối tượng khảo sát là lao động nông thôn xã Quang Minh trong khung thời gian 2015 - 2017 và khảo sát thực địa năm 2018. Tác giả chi tiết hóa thiết kế nghiên cứu bao gồm công thức chọn mẫu Slovin xác định cỡ mẫu 96 hộ tại 3 thôn (Minh Thượng, Lung Cu, Thống Nhất), quy trình phỏng vấn hộ gia đình và bộ chỉ tiêu đo lường kinh tế nông hộ, đặc biệt là phương pháp tính tỷ suất sử dụng thời gian lao động dựa trên ngày công lý thuyết và ngày công thực tế.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực nghiệm và phân tích thực trạng kinh tế - xã hội, lao động và việc làm tại địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên và tài nguyên: Xã Quang Minh có địa hình đồi núi thấp dạng bát úp với độ dốc từ 5 - 20 độ, dốc từ Tây sang Đông, có các điểm cao như Pù Ngọm (409m), Khâu Moi (468,4m). Khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, lượng mưa cả năm 2.447,4mm (tập trung tháng 6 - 8), nhiệt độ trung bình 20,5°C. Sông Lô chảy qua xã dài 28,9 km cùng 23 con suối. Tổng diện tích tự nhiên năm 2017 là 5.042,00 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp chiếm 4.300,73 ha (85,30%), đất phi nông nghiệp chiếm 494,67 ha (9,81%) và đất chưa sử dụng còn 246,59 ha (4,89%).
  • Cơ cấu kinh tế: Giá trị kinh tế năm 2017 đạt 116 triệu đồng (theo bảng số liệu báo cáo địa phương), cơ cấu gồm: Nông - Lâm - Thủy sản chiếm 48,49% (80,50 triệu đồng); Dịch vụ chiếm 36,33% (60,30 triệu đồng); Công nghiệp - Xây dựng chiếm 15,18% (25,20 triệu đồng).
  • Dân số và lực lượng lao động toàn xã: Năm 2017 toàn xã có 9.936 nhân khẩu (nam 5.380 người, chiếm 54,15%; nữ 4.556 người, chiếm 45,85%) với 20 thôn bản và 16 dân tộc cùng sinh sống; tổng số hộ là 2.268 hộ (hộ nông nghiệp chiếm 79,94%, thương mại - dịch vụ 15,60%, hộ kiêm 4,45%). Tổng lực lượng lao động là 5.921 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 84,02% (4.975 người) và lao động phi nông nghiệp chỉ chiếm 15,97% (946 người).
  • Kết quả khảo sát 96 hộ điều tra (283 lao động):
    • Nhóm tuổi và giới tính: Độ tuổi 25 - 34 chiếm tỷ lệ cao nhất toàn xã với 25,38% (năm 2017 là 1.470 người); tỷ lệ lao động nam chiếm 57,66%, nữ chiếm 42,34%.
    • Trình độ học vấn: Trình độ THPT chiếm 47,34% (134 người), THCS chiếm 22,61% (64 người), tiểu học chiếm 17,31% (49 người) và mù chữ chiếm 12,72% (36 người, riêng nhóm hộ nghèo có 56,25% lao động mù chữ).
    • Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Lao động chưa qua đào tạo chiếm đa số với 56,53% (160 người; ở hộ nghèo tỷ lệ này lên đến 87,50%), sơ cấp nghề chiếm 11,30%, trung cấp chiếm 12,72%, và trình độ cao đẳng - đại học chiếm 19,43%.
    • Tình trạng việc làm: Trong 283 lao động điều tra có 250 người đủ việc làm (100% lao động ở hộ khá đủ việc làm) và 33 người thiếu việc làm (chiếm 11,66% tổng số lao động khảo sát). Toàn bộ 33 lao động thiếu việc làm rơi vào nhóm hộ trung bình (17 người, chiếm 51,52% số thiếu việc) và nhóm hộ nghèo (16 người, chiếm 48,48% số thiếu việc).
    • Tỷ suất sử dụng thời gian lao động: Đạt mức bình quân 71,43% (tổng ngày công lý thuyết là 7.924 công/tháng, ngày công thực tế sử dụng là 5.660 công/tháng, số ngày công dư thừa là 2.264 công/tháng, tương ứng tỷ lệ thời gian lao động dư thừa 28,57%).
    • Thu nhập bình quân: Hộ phi nông nghiệp có thu nhập cao nhất đạt 136,73 triệu đồng/hộ/năm (thu nhập bình quân 63,81 triệu đồng/lao động/năm; 38,28 triệu đồng/khẩu/năm); tiếp đến là hộ kiêm ngành nghề đạt 134,87 triệu đồng/hộ/năm; hộ thuần nông đạt thấp nhất với 123,20 triệu đồng/hộ/năm (thu nhập bình quân 43,58 triệu đồng/lao động/năm; 30,86 triệu đồng/khẩu/năm).
  • Trên cơ sở các khó khăn được nhận diện (lao động dư thừa mang tính thời vụ, quy mô đất canh tác bình quân chỉ 0,43 - 0,51 ha/lao động, hoạt động phi nông nghiệp mang tính tự phát), tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện tại xã Quang Minh: quy hoạch quản lý đất đai; phát triển chăn nuôi hàng hóa; phát triển ngành nghề phi nông nghiệp; nâng cao trình độ văn hóa; đẩy mạnh đào tạo nghề; và mở rộng chính sách tín dụng vốn vay ưu đãi.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Chương cuối tóm tắt lại những kết quả nghiên cứu then chốt, đồng thời đưa ra hệ thống kiến nghị cụ thể: đối với chính quyền xã địa phương (bố trí lao động đúng chuyên môn, bồi dưỡng định kỳ, tạo điều kiện thu hút đầu tư, phối hợp đào tạo nghề) và đối với người lao động (chủ động tham gia học nghề, nâng cao trình độ văn hóa, chấp hành pháp luật và rèn luyện thể chất).


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về thực trạng việc làm và nguồn lực kinh tế tại xã Quang Minh, huyện Bắc Quang. Các phát hiện cốt lõi từ số liệu khảo sát được tổng hợp trong các bảng sau:

Bảng 1: Cơ cấu kinh tế và đặc điểm việc làm của mẫu khảo sát (n = 96 hộ, 283 lao động)

Nhóm chỉ tiêu Phân loại chi tiết Giá trị tuyệt đối Tỷ lệ (%)
Trình độ học vấn của lao động Mù chữ 36 người 12,72%
Tiểu học (TH) 49 người 17,31%
Trung học cơ sở (THCS) 64 người 22,61%
Trung học phổ thông (THPT) 134 người 47,34%
Trình độ chuyên môn kỹ thuật Chưa qua đào tạo 160 người 56,53%
Sơ cấp 32 người 11,30%
Trung cấp 36 người 12,72%
Đại học - Cao đẳng 55 người 19,43%
Thực trạng sử dụng thời gian Ngày công thực tế sử dụng 5.660 công/tháng 71,43%
Ngày công dư thừa 2.264 công/tháng 28,57%
Tổng công lý thuyết 7.924 công/tháng 100,00%
Phân bổ tình trạng việc làm Đủ việc làm 250 người 88,34%
Thiếu việc làm 33 người 11,66%

Bảng 2: So sánh mức thu nhập bình quân giữa các nhóm hộ điều tra

Tiêu chí thu nhập Đơn vị tính Hộ thuần nông Hộ kiêm ngành nghề Hộ phi nông nghiệp
Thu nhập bình quân / hộ / năm Triệu đồng 123,20 134,87 136,73
Thu nhập bình quân / lao động / năm Triệu đồng 43,58 45,48 63,81
Thu nhập bình quân / khẩu / năm Triệu đồng 30,86 31,54 38,28

Các giải pháp và kiến nghị chính do tác giả xây dựng bao gồm:

  • Giải pháp đất đai: Khuyến khích khai hoang đưa diện tích đất chưa sử dụng (246,59 ha) vào canh tác; chuyển đổi cơ cấu cây trồng kém hiệu quả sang cây có giá trị kinh tế như ngô lai, mía, cây ăn quả; quy hoạch đất ven trục giao thông chính thành đất dịch vụ, chợ và thổ cư nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư tạo việc làm tại chỗ.
  • Giải pháp chăn nuôi: Chuyển dịch chăn nuôi gia súc (trâu, bò thịt) và gia cầm theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung; tận dụng mặt nước các hồ đập để nuôi cá thâm canh; cải tạo giống vật nuôi để hạn chế suy thoái giống.
  • Giải pháp phi nông nghiệp và đào tạo nghề: Khôi phục và phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống phù hợp với địa phương; tổ chức các lớp dạy nghề ngắn hạn tại chỗ theo Đề án 1956; tranh thủ nguồn vốn từ ngân sách và các chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư trường lớp.
  • Giải pháp vốn tín dụng: Thực hiện bình xét cho vay ưu đãi đúng đối tượng qua các hội đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân), nới lỏng cơ chế thế chấp tài sản đối với hộ nghèo nhằm hỗ trợ tạo sinh kế mới.

Đóng góp của đề tài: Tác giả đã lượng hóa cụ thể mức độ thiếu hụt việc làm và tỷ lệ dư thừa công lao động (28,57%) tại địa bàn cấp xã miền núi, làm rõ mối liên hệ giữa trình độ học vấn, trình độ chuyên môn với mức độ tiếp cận việc làm và thu nhập thực tế của từng phân nhóm hộ gia đình nông thôn.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu thực tế:

  • Phạm vi khảo sát thực địa được giới hạn ở quy mô mẫu 96 hộ tại 3 thôn đại diện trên tổng số 20 thôn bản của xã Quang Minh, chưa bao quát được toàn bộ các thôn vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế khó khăn hơn.
  • Chuỗi số liệu phân tích thời gian dừng lại ở giai đoạn 2015 - 2017, việc phân tích dữ liệu chủ yếu sử dụng các công cụ thống kê mô tả cơ bản trên Excel mà chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng hồi quy đa biến nhằm lượng hóa mức độ tác động của từng biến độc lập (vốn, diện tích đất, số năm đi học) tới thu nhập của hộ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản gợi mở dựa trên phạm vi nghiên cứu:

  • Mở rộng phạm vi điều tra sang toàn bộ 20 thôn bản của xã Quang Minh và các xã lân cận trong huyện Bắc Quang nhằm đánh giá đầy đủ tính liên kết vùng trong dịch chuyển lao động nông thôn.
  • Cập nhật số liệu theo dõi diễn biến việc làm qua các giai đoạn tiếp theo, xây dựng các mô hình định lượng đánh giá tác động chi tiết của các chương trình đào tạo nghề sau khi triển khai trên thực tế.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển, Quản lý lao động và Phát triển nông thôn: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp điều tra chọn mẫu hộ gia đình bằng công thức Slovin, kỹ năng phân tổ kinh tế hộ và cách thức xây dựng hệ thống chỉ tiêu tính toán ngày công dư thừa, tỷ suất sử dụng thời gian lao động nông thôn.
  • Cán bộ quản lý cấp xã và huyện: Phần phân tích thực trạng kinh tế - xã hội và số liệu chi tiết tại Chương 4 là nguồn dữ liệu thực tế giúp chính quyền xã Quang Minh và các cơ quan chuyên môn huyện Bắc Quang tham khảo trong việc xây dựng kế hoạch chuyển đổi việc làm, triển khai công tác đào tạo nghề ngắn hạn và phân bổ các nguồn vốn tín dụng chính sách.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng biểu điều tra hộ gia đình (Bảng 4.8 đến 4.14), phản ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa mức độ đào tạo chuyên môn và tỷ lệ thiếu việc làm trong các nhóm hộ kinh tế khác nhau.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô mẫu điều tra của nghiên cứu được xác định theo phương pháp nào và phân bổ cụ thể ra sao?
Quy mô mẫu được tính toán theo công thức của Slovin (1960) với tổng thể toàn xã là 2.268 hộ, độ tin cậy 90% và sai số cho phép 10%, cho ra cỡ mẫu $n = 96$ hộ. Số mẫu này được phân bổ đều cho 3 thôn đại diện (mỗi thôn 32 hộ), gồm: thôn Minh Thượng (vùng ven trung tâm, chuyên lúa màu và dịch vụ), thôn Lung Cu (mức độ kinh tế trung bình) và thôn Thống Nhất (vùng nửa đồng bằng, chuyên cây công nghiệp và lâm nghiệp).

2. Thực trạng trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của người lao động tại các hộ khảo sát như thế nào?
Trong tổng số 283 lao động được điều tra:

  • Về trình độ văn hóa: Trình độ THPT chiếm 47,34% (134 người), THCS chiếm 22,61% (64 người), tiểu học chiếm 17,31% (49 người) và mù chữ chiếm 12,72% (36 người, trong đó hộ nghèo chiếm tỷ lệ mù chữ rất cao là 56,25%).
  • Về chuyên môn kỹ thuật: Lao động chưa qua đào tạo chiếm đa số với 56,53% (160 người); sơ cấp chiếm 11,30%; trung cấp chiếm 12,72%; và đại học - cao đẳng chiếm 19,43%.

3. Tỷ suất sử dụng thời gian lao động và mức độ dư thừa ngày công tại xã Quang Minh là bao nhiêu?
Tại 96 hộ điều tra (283 lao động), tổng số ngày công lao động lý thuyết là 7.924 công/tháng, số ngày công thực tế sử dụng là 5.660 công/tháng. Tỷ suất sử dụng thời gian lao động đạt 71,43%, trong khi số ngày công dư thừa là 2.264 công/tháng, tương ứng mức lãng phí thời gian lao động là 28,57%.

4. Mức độ thiếu việc làm phân bố như thế nào giữa các nhóm hộ phân loại theo điều kiện kinh tế?
Tổng số có 33 lao động thiếu việc làm (chiếm 11,66% tổng số lao động khảo sát). Toàn bộ số lao động thiếu việc làm tập trung ở nhóm hộ trung bình (17 người, chiếm 51,52% số lao động thiếu việc) và nhóm hộ nghèo (16 người, chiếm 48,48% số lao động thiếu việc). Nhóm hộ khá có 100% lao động đủ việc làm và không có lao động thiếu việc làm.

5. Mức thu nhập bình quân giữa các loại hình hộ (thuần nông, kiêm ngành nghề, phi nông nghiệp) có sự chênh lệch ra sao?
Nhóm hộ phi nông nghiệp có thu nhập bình quân cao nhất đạt 136,73 triệu đồng/hộ/năm (bình quân 63,81 triệu đồng/lao động/năm). Hộ kiêm ngành nghề đứng thứ hai với 134,87 triệu đồng/hộ/năm (bình quân 45,48 triệu đồng/lao động/năm). Hộ thuần nông có mức thu nhập thấp nhất đạt 123,20 triệu đồng/hộ/năm (bình quân 43,58 triệu đồng/lao động/năm).


Kết luận

Khóa luận đã phản ánh toàn diện thực trạng sử dụng nguồn lao động và các yếu tố cản trở giải quyết việc làm tại xã Quang Minh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015 - 2017. Thông qua số liệu khảo sát thực nghiệm trên 96 hộ gia đình với 283 lao động, tác giả đã chỉ rõ tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao (56,53%), thời gian lao động dư thừa lớn (28,57%) và sự cách biệt rõ rệt về thu nhập giữa nhóm hộ phi nông nghiệp so với hộ thuần nông. Các giải pháp do đề tài đề xuất tập trung vào quy hoạch đất đai, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, đào tạo nghề và hỗ trợ vốn tín dụng, cung cấp căn cứ thực tiễn phục vụ mục tiêu giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người dân tại địa phương.