CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ĐÌNH 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình 1.1 Giới và giới tính 1.1 Khái niệm * Giới (Sexual): Là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng sinh học của nữ giới và nam giới trong tự nhiên. Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. [1] Khái niệm về “Giới” xuất hiện ban đầu tại các nước nói tiếng Anh vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX. Đến thập kỷ 80 thì nó xuất hiện tại Việt Nam.
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, thể chế chính trị, xã hội cụ thể. Giới là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội.
* Giới tính (Gender): Là khái niệm dùng để chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trên cả khía cạnh sinh học và xã hội. Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra và đã gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được.
Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng. Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới. 5 Các đặc trưng giới tính là kết quả của một quá trình tiến hoá rất lâu dài của loài người trong lịch sử.
Do vậy, các biến đổi giới tính cũng đòi hỏi phải tốn rất nhiều thời gian với những điều kiện và sự can thiệp rất đặc biệt. Sự khác nhau về giới tính không hàm chứa sự bất bình đẳng, tức là vị thế sinh học của nam và nữ là ngang nhau.2 Đặc điểm của giới Giới có những đặc điểm cơ bản như sau: [3] - Không tự nhiên mà có - Học được từ gia đình và xã hội - Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền) - Có thể thay đổi được. (Ví Dụ: Phụ nữ có thể làm được những việc mà tưởng trừng chỉ có nam giới mới làm được và ngược lại: phụ nữ có thể làm Tổng thống, làm chủ tịch nước… còn nam giới có thể làm đầu bếp, thuê thùa may vá….3 Nguồn gốc và sự khác biệt về giới Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người, bảo đảm cho việc tái sản xuất con người và xã hội. Sự khác biệt về giới đã quy định thiên chức của họ trong gia đình và trong xã hội.
Bắt đầu từ khi sinh ra là đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là bé trai hay bé gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố mẹ. Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình như bé trai thích đá bóng còn bé gái thích nhảy dây… Những tri thức xã hội cũng hướng theo sự khác biệt về giới khi trẻ lớn lên bắt đầu đi học. Chẳng hạn như nam giới được hướng theo những ngành kỹ thuật, phải có thể lực tốt và tư duy cao.
Còn nữ giới có thể lực yếu hơn thường được hướng theo các ngành nữ công và những ngành cần có sự khéo léo, tỉ mỉ…Tất cả các tác động vô tình hay hữu ý của xã hội đều làm tăng sự khác biệt về giới trong xã hội. Tuy nhiên, người ta lại thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự khác biệt về giới. Phụ nữ thường được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành 6 phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác hơn nam giới.
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trưng về giới này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội và ít bị ràng buộc hơn bởi con cái, gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.
Để thay đổi quan hệ giới các đặc trưng của giới cần phải vượt qua những quan niệm cũ, tức là cần phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người trong xã hội về giới và quan hệ giới. Hơn nữa, nam - nữ lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận với cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn, tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, từ điều kiện và cơ hội đi học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tiếp cận và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với giới cũng có sự khác nhau. Sự khác biệt về giới và giới tính là nguyên nhân cơ bản gây nên bất bình đẳng trong xã hội.
Trong nhiều năm gần đây, hầu hết các nước đã dần đánh giá đúng mức vai trò của phụ nữ, kết quả là thực hiện các mục tiêu “Bình đẳng nam nữ” để giải phóng sức lao động và xây dựng củng cố thêm nền văn minh nhân loại. Tuy nhiên mức độ bình đẳng đó tuỳ thuộc vào từng quốc gia và giảm dần theo chiều tăng của sự phát triển đối với mỗi nước trên thế giới.4 Vai trò của giới Vai trò giới thể hiện ở ba loại hình: - Vai trò sản xuất: Được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi hình thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội. Là những công việc do phụ nữ và nam giới thực hiện nhằm tạo ra thu nhập hoặc để tự 7 tiêu dùng. Chúng bao gồm các hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần hoặc tạo ra những dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của gia đình.
Ví dụ: Vai trò sản xuất của phụ nữ ở nông thôn bao gồm công việc trồng trọt, chăn nuôi, làm vườn, làm hàng thủ công… Vai trò sản xuất của phụ nữ ở thành thị bao gồm việc làm công ăn lương trong các cơ quan, xí nghiệp, làm thuê cho chủ tư nhân hoặc kinh doanh, buôn bán… - Vai trò tái sản xuất sức lao động: Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì và phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: các công việc nội trợ, chăm sóc nuôi dạy con cái,… vai trò này hầu như là thuộc về phụ nữ. - Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng như: tham gia các hoạt động phụ nữ tại địa phương, các hoạt động y tế thôn bản, các dự án tại địa phương…[3] 1.2 Gia đình và kinh tế gia đình 1.1 Khái niệm gia đình Gia đình là cái gốc của con người, nơi con người sinh ra, bắt đầu một cuộc sống. Khái niệm gia đình thường dùng để chỉ một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó.
Gia đình là một tổ chức xã hội lịch sử, là một thiết chế xã hội đặc thù, là một xã hội thu nhỏ với tất cả các mối quan hệ xã hội ràng buộc với nhau. Mác viết về gia đình: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình con người còn tạo ra người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con. Đó là gia đình.” Chủ nghĩa Mác coi gia đình là một trong những nhân tố đầu tiên tham gia quyết định sự hình thành và phát triển của lịch sử, quan hệ giữa gia đình và xã hội như quan hệ giữa tế bào với cơ thể sống. [6] Nói đến gia đình là nói đến nhóm tâm lý - tình cảm xã hội đặc thù, các mối quan hệ 8 trong gia đình, sự cấu kết giữa các thành viên trong gia đình bắt nguồn từ quan hệ huyết thống ruột thịt và quan hệ tình cảm, trách nhiệm.2 Khái niệm, đặc điểm kinh tế gia đình Kinh tế gia đình là loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới.
Ở Việt Nam, kinh tế gia đình cũng có vai trò và ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế thị trường với gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn với xuất phát điểm thấp, kinh tế gia đình đang là một đơn vị sản xuất phổ biến. Đây là mô hình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kinh tế gia đình có vị trí rất quan trọng, tồn tại lâu dài và là bộ phận hợp thành của kinh tế xã hội chủ nghĩa. Cùng với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, kinh tế gia đình góp phần khai thác mọi tiềm năng phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập của nhân dân, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, kinh tế gia đình không phải là một thành phần kinh tế, nhưng là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác. Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất. Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình.