CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Thuế là một trong các vấn đề lớn được quan tâm nhất trong nền kinh tế vĩ mô của các nước trên thế giới. Được coi là trụ cột của quốc gia, quyết định sự phát triển và hưng thịnh của từng quốc gia nên thuế rất được nhà nước cùng các DN chú trọng và quan tâm. Tại Viêt Nam, vấn đề thuế TNDN của các cơ sở SXKD; DN quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ là một trong những nội dung quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý liên quan đến vấn đề kinh tế. Việc quản lý tuân thủ thuế TNDN cũng được xem là một vấn đề vĩ mô của đất nước.
Việc theo dõi quản lí nhằm đảm bảo việc các cá nhân, DN kinh doanh nhằm đảm bảo tất cả NNT tuân thủ một cách tối đa về nghĩa vụ đóng thuế của mình và để ban ngành các cấp có thẩm quyền có thể thi hành các vấn đề liên quan đến thuế một cách có hiệu quả. Đã có rất nhiều nghiên cứu từ trong nước cũng như thế giới đi sâu vào nghiên cứu và bàn luận về tổng quan chung về thuế TNDN cũng như tuân thủ thuế TNDN. Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu về chính sách và tuân thủ thuế TNDN đã được thực hiện trong nước dưới dạng luận án, luận văn, các công trình nghiên cứu khoa học và các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Tuân thủ thuế ( TTT ) là một chủ đề đã được rất nhiều nhà khoa học nước ngoài đứng ra khai thác .Các tài liệu nghiên cứu xuất phát từ các học giả trên rất nhiều lĩnh vực như quản lý, quản trị ,chính trị gia của các nước, thậm chí đến từ các nhà diễn giả trong nước và quốc tế.
TTT được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, từ các khái niệm chung đến các khái niệm cụ thể, và từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng. TTT là sự sẵn lòng của người nộp thuế trong việc tuân theo luật thuế bằng cách thực hiện các trách nhiệm thuế (Peter và Dijke, 2007).[1] Theo Hamm (1995) [2], TTT được xác định bằng việc “người nộp thuế đăng ký và nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế vào thời điểm thích hợp và thực hiện chính xác các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế và các quyết định 6 của tòa án." Trong khi đó, James & Alley (1999) [3] định nghĩa TTT một cách đơn giản nhất là "mức độ tuân thủ nghĩa vụ thuế theo quy định trong luật thuế". Theo Alm (1991) [4], phạm vi TTT bao gồm: báo cáo thu nhập và thanh toán các trách nhiệm thuế theo quy định của pháp luật và quyết định của tòa án. Còn theo OECD (2004) [5], TTT được đánh giá dựa trên phạm vi nghĩa vụ của người nộp thuế được xác định dựa trên ba nghĩa vụ cơ bản: (1) Đúng hạn khai báo; (2) Khai báo chính xác; (3) Thực hiện nghĩa vụ đúng hạn.
TTT tiêu chuẩn sẽ đòi hỏi việc khai báo thu nhập chính xác để tính thuế, thực hiện đúng trách nhiệm pháp lý (sự chính xác), khai báo thu nhập đúng thời hạn và thanh toán số tiền thuế đúng hạn (tính kịp thời) (Franzoni, 1999) [6]. Các quan điểm nghiên cứu trên đây hầu hết là tập trung vào sự tự nguyện của NNT để đánh giá hành vi đó có là tuân thủ hay không. Andreoni và cộng sự (1998) [7] cho rằng sự tuân thủ tự nguyện của NNT mà không cần sự kiểm tra, giám sát, nhắc nhở của cơ quan có thẩm quyền hoặc lo sợ về các biện pháp hành chính cũng là một phần của sự tuân thủ. Cũng đồng tình với khía cạnh đó, James & Alley (1999) [8] đã đi tìm câu trả lời cho câu hỏi liệu "tuân thủ" có phải là hành vi tự nguyện hay bắt buộc? Nếu người nộp thuế "tuân thủ" chỉ vì sợ hãi hoặc áp dụng các biện pháp hành chính, hoặc cả hai, thì điều này không được coi là một tuân thủ đầy đủ ngay cả khi thuế được nộp đạt tới 100% so với mức quy định.
Đi sâu hơn vào tìm hiểu TTT, các nhà khoa học đã nghiên cứu các mô hình về hành vi của NNT để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ. Nghiên cứu của Allingham và Sandmo (1972) [9] được coi là một nghiên cứu tiên phong bởi tác giả phân tích hành vi tuân thủ dựa trên khung phân tích lợi ích - chi phí kinh tế để xác định mức thuế, mức phạt, cũng như xác suất bị phát hiện dẫn đến NNT đứng trước quyết định lựa chọn tuân thủ thuế hay không. Ann Dryden và Helen ( 1987) [10] cũng đưa ra công trình nghiên cứu đánh giá giữa tần suất kiểm tra của CQT, mức xử phạt, tỷ lệ thuế suất ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi tuân thủ của NNT bởi 2 tác giả cho rằng trước khi đưa ra các báo cáo thuế, NNT thường tìm cách tối đa hóa lợi ích bằng cách thức đơn giản nhất là không khai thuế. Một nghiên cứu mô hành vi khác là nghiên cứu của Fischer và đồng nghiệp (1992) [11].
Trong nghiên cứu này, Fischer đã tập hợp các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi TTT thành 4 nhóm, tạo nên một 7 cấu trúc ảnh hưởng đến hành vi của người nộp thuế, và mô hình này được gọi là Mô hình Fischer về TTT. Theo mô hình Fischer, có tổng cộng 4 nhóm yếu tố bao gồm: cấu trúc hệ thống thuế (bao gồm thuế suất, hình phạt, xác suất phát hiện, độ phức tạp và sự công bằng), thái độ và nhận thức của người nộp thuế (bao gồm tôn giáo và công bằng), cơ hội không tuân thủ (bao gồm mức thu nhập và nguồn thu nhập), và các yếu tố dân số học (bao gồm nghề nghiệp, tuổi, giới tính và trình độ học vấn). Ngoài mô hình nghiên cứu hành vi, còn nhóm mô hình khác như các mô hình ngăn chặn hành vi không tuân thủ (Allingham và Sandmo, 1972 ; Yitzhaki, 1974) [12], mô hình liên quan đến tâm lý NNT (Schmölders, 1959) [13]. Tuy nhiên, theo Cowell (2003) [14] và Alm và McClelland (1999) [15] thì không mô hình nào đủ toàn diện để bao quát được tất cả hành vi tuân thủ thuế trong thực tiễn.
Marandu và cộng sự (2015) [16] có chung một quan điểm rằng các mô hình nghiên cứu đã có được xem là bổ sung lẫn nhau những vấn đề thiếu xót dựa trên các khía cạnh khác nhau đối với các nhân tố tác động khác nhau đến vấn đề tuân thủ thuế. Để nâng cao sự tuân thủ thuế thì công trình Cash Economy Task Force (1998) [17] được đánh giá là khá đầy đủ khi đề xuất các biện pháp quan trọng nhằm nâng cao tuân thủ thuế là áp dụng đồng thời sự khuyến khích và cưỡng chế đến từ CQT. (1998) [18] đồng tình với công trình khi cho rằng tầm quan trọng để hạn chế không tuân thủ là xây dựng chính sách phù hợp, điều chỉnh mức thuế suất hợp lý và thanh, kiểm tra thường xuyên. Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác ở nước ngoài nghiên cứu về tuân thủ thuế và giải pháp nâng cao sự tuân thủ.
Đây là nguồn tư liệu bổ ích cho em tham khảo và kế thừa trong quá trình nghiên cứu. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, đề tài TTT cũng được nhiều tác giả lựa chọn khai thác. Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân (2012) [19] cho rằng tuân thủ thuế của DN có thể được hiểu là hành vi tuân thủ nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian. 8 Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (2015) [20] đã cho ra đời “Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các DN” nhằm đưa ra quan điểm rằng người nộp thuế là những người tối đa hóa tiện ích, là người tự chủ về thu nhập, một khi thu nhập của người nộp thuế tăng lên thì mức độ trốn tránh thuế cũng sẽ tăng lên, đồng nghĩa với sự tuân thủ thuế bị giảm xuống.
Về hành vi tuân thủ thuế của DN thì nghiên cứu thực nghiệm của Đặng Thị Bạch Vân (2014) [21] đã cho ra kết quả rằng các yếu tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế gồm có: thuế suất, xác xuất bị kiểm tra, mức phạt, nhận thức về tính công bằng, ý thức thuế. Theo như nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) [22], tác giả đã làm rõ các đặc điểm riêng của đối tượng NNT là DN trên địa bàn Hà Nội và dựa vào những đặc điểm này mà đánh giá sự tuân thủ theo mô hình tuân thủ thuế điều chỉnh. Kết luận của công trình xác định được có sáu nhóm yếu tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của DN trên địa bàn thành phố Hà Nội, gồm đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, đặc điểm tâm lý của doanh nghiệp, đặc điểm ngành của doanh nghiệp, yếu tố xã hội, yếu tố kinh tế, yếu tố pháp luật. Tính tuân thủ được phân tích dựa vào 3 chỉ số tự nguyện, đủ và đúng thời gian dựa trên các đặc điểm tác động.
Từ đó, nghiên cứu đề xuất những giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thuế của nhà nước nhằm tăng cường hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp. Cùng thời điểm 2009, Phạm Văn Phong [23] cũng đưa ra nghiên cứu cung cấp một số đặc điểm về tình hình tuân thủ thuế của NNT và thực trạng quản lý thuế nhằm tăng cường tuân thủ thuế của NNT trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn từ 2006 đến 2008. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề ra một hệ thống giải pháp phù hợp với thực tế quản lý thuế trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế và cải thiện mức độ tuân thủ thuế của NNT trong tương lai. Kế thừa những nghiên cứu đi trước, Nguyễn Thị Thanh Hoài và cộng sự (2011) [24] trong bài luận tiến sĩ cũng đưa ra kết luận rằng pháp luật có một ảnh hưởng hết sức nhất định đối với với vấn đề tuân thủ nộp thuế TNDN trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao tuân thủ thuế TNDN.
Kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu TTT và giải pháp nâng cao tuân thủ thuế được các nhà kinh tế học, các nhà quản lý, nhà nghiên cứu nước trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.