CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ XÁC ĐỊNH KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 1. Các nghiên cứu về mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp Nghiên cứu của nhóm tác giả James & Alley (2002) về tuân thủ thuế, tự đánh giá và quản lý thuế mô tả mục đích của việc tuân thủ thuế và các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng trong việc tuân thủ thuế. Mục đích chính của việc đánh thuế là mang lại lợi ích hơn là trừng phạt.
Bài viết thảo luận hai cách tiếp cận khác nhau để tuân thủ thuế, gợi ý rằng nên thận trọng trong việc sử dụng các hình phạt và cần nhấn mạnh vào việc hỗ trợ công dân đáp ứng các yêu cầu về nghĩa vụ thuế của họ. Nhiệm vụ đặt ra là phát triển một cách tiếp cận kết hợp cả cách tiếp cận kinh tế và hành vi đối với việc tuân thủ thuế. Chiến lược tuân thủ thuế thành công phải chú trọng đúng mức tới tất cả các yếu tố liên quan và mối tương quan giữ các yếu tố đó. Nghiên cứu của Vân (2014) xoay quanh vấn đề về người nộp thuế và tuân thủ thuế đã đưa ra các góc nhìn đa dạng về hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế.
Tác giả đã phân các nhân tố tác động lên hành vi tuân thủ thuế thành 2 nhóm: Nhóm các yếu tố mang tính chất kinh tế và nhóm các yếu tố mang tính chất tâm lý - xã hội, từ đó tổng hợp sự tương quan giữa các nhóm yếu tố này với hành vi tuân thủ thuế. Tác giả cũng cho rằng việc đo lường mức độ tuân thủ thuế quan trọng hơn việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi trốn thuế. Bởi vì một khi việc tuân thủ thuế của người nộp thuế được cải thiện theo hướng tuân thủ tự nguyện nhiều hơn, cơ quan thuế sẽ giảm bớt áp lực nhằm thu hẹp khoảng cách thuế giữa số thuế thu được và số thuế phải nộp. Ngoài ra, việc xác 5 định mức độ tuân thủ thực tế của người nộp thuế còn giúp cơ quan thuế xác định cách quản lý phù hợp (mô hình mức độ tuân thủ thuế).
Nghiên cứu của tác giả Onu (2016) cho rằng truyền thông và các vấn đề chuẩn mực xã hội sẽ ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế. Tác giả xác định năm loại tương tác chính thu thập được: (1) cung cấp thông tin, (2) nêu rõ các quy định, (3) nêu bật các khía cạnh tích cực của việc nộp thuế, (4) thuyết phục trực tiếp và (5) cảnh báo/đe dọa. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng truyền thông có vai trò quan trọng đối với hành vi tuân thủ thuế nhưng không cung cấp giải thích rõ ràng về mức độ tuân thủ. Nghiên cứu của Aladejebi (2018) về tuân thủ thuế tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Nigeria xem xét mức độ tuân thủ thuế của các chủ sở hữu doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) ở Nigeria.
Doanh nghiệp nhỏ rất quan trọng đối với nền kinh tế của Nigeria. Cỡ mẫu cho nghiên cứu là 250 và 223 chủ sở hữu SME đã trả lời thông qua bảng câu hỏi được phát. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng được để phân tích dữ liệu thu thập được và sử dụng SPSS để phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy chủ sở hữu doanh nghiệp vừa và nhỏ là nữ tuân thủ thuế nhiều hơn so với nam giới.
Nghiên cứu đề xuất cần có sự giáo dục về thuế cho các chủ sở hữu SME, các ưu đãi thuế có thể làm tăng mức độ tuân thủ thuế. Tuân thủ thuế được các nhà nghiên cứu cũng như các cơ quan quản lý nghiên cứu các chính sách cả từ phía cơ quan quản lý thuế là Tổng cục thuế hay các chi cục (Hạnh & Thụy, 2022) và tuân thủ thuế từ phía người nộp thuế (Bani- Khalid và cộng sự 2022; Hà & Yến, 2021; Hoàng, 2022). Đáng chú ý, những nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số hệ thống thuế điện tử cũng như chuyển đổi số doanh nghiệp được các quốc gia phát triển cũng như đang phát triển thực hiện, tạo ra sự thay đổi lớn trong tuân thủ thuế bao gồm có 6 thuế giá trị gia tăng (Bani-Khalid & cộng sự 2022; Bellon và cộng sự 2022; Lutfi và cộng sự 2023), thuế thu nhập cá nhân (Al-Zaqeba & Al-Rashdan, 2020; Irawati và cộng sự 2022), hay toàn bộ các khoản thuế phải nộp nói chung. Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Nghiên cứu của Barbuta-Misu (2011) xác định các biến của việc tuân thủ thuế được phân tích bởi các nhà nghiên cứu từ nhiều quốc gia khác nhau và điều chỉnh chúng cho phù hợp với điều kiện để xây dựng mô hình để bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế, giữa nộp thuế và trốn thuế, nhấn mạnh tác động trên phạm vi rộng nhiều tiềm năng các yếu tố quyết định tự nguyện tuân thủ với thu nhập/lợi nhuận nộp thuế cá nhân và nghĩa vụ báo cáo.
Các yếu tố quyết định được xác định là: các yếu tố kinh tế theo mức thu nhập, xác suất kiểm toán thuế, thuế suất, lợi ích thuế, hình phạt, mức phạt và các yếu tố phi kinh tế khác ảnh hưởng đến thái độ đối với thuế, các chuẩn mực cá nhân, xã hội và quốc gia, nhận thức về công bằng thuế. Nghiên cứu của Freire-Serén & Panadés (2013) cho rằng trốn thuế là một hiện tượng vốn có của các hệ thống thuế thể hiện hành vi các cá nhân không thích nộp thuế. Do đó, hậu quả kinh tế của hệ thống thuế có thể do vấn đề này gây ra. Ở hầu hết các nước, hệ thống thuế đều mang tính lũy tiến.
Mặc dù có một số định nghĩa và thước đo khác nhau về lũy tiến, nhưng cách được sử dụng phổ biến nhất là yêu cầu mức thuế suất trung bình tăng theo thu nhập. Trong bối cảnh này, theo tiêu chí Lorenz, thu nhập sau thuế được phân bổ công bằng hơn thu nhập trước thuế. Trong bài viết này, nhóm tác giả phân tích sự thay đổi mà việc trốn thuế mang lại trong tác động tái phân phối của lũy tiến thuế. Năm 2015, Nghiên cứu của nhóm tác giả Marandu và cộng sự (2015) đã cung cấp đánh giá về các yếu tố quyết định sự tuân thủ của người nộp thuế từ 7 chiến lược tiếp thị xã hội.
Dữ liệu đến từ 18 nghiên cứu thực nghiệm được công bố trên toàn thế giới từ năm 1985 đến năm 2012. Những phát hiện này đã đưa ra một số tiết lộ. Đầu tiên, có quá nhiều yếu tố giải thích khác nhau đã được đề xuất trong tài liệu khiến việc so sánh các phát hiện giữa một số nghiên cứu trở nên khó khăn. Thứ hai, một số các nhà nghiên cứu tiến hành mà không có khung lý thuyết giúp hướng dẫn việc chọn lựa các yếu tố độc lập.
Kể từ khi sử dụng lý thuyết sẽ nâng cao sự hiểu biết về các yếu tố chính ảnh hưởng đến một hiện tượng, sự thiếu sót này đã khiến tài liệu về thuế mà không có sự hội tụ có ý nghĩa về các yếu tố chính mang tính quyết định. Thứ ba, phân tích tổng hợp cho thấy các biến kiểm soát thái độ, quy chuẩn và chủ quan đều là những yếu tố dự báo tốt về việc tuân thủ thuế. Đầu tiên, các tác giả cho rằng các nghiên cứu sau này nên tìm cách phát triển một số tập hợp lý thuyết dựa trên các yếu tố quyết định có liên quan đến việc tuân thủ thuế mà có thể mang lại những dự đoán chính xác. Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách thuế nên ngừng việc sử dụng độc quyền các phương pháp cưỡng chế thông thường (các yếu tố kiểm soát chủ quan) thường được sử dụng để buộc tuân thủ thuế; thay vào đó họ nên áp dụng cách tiếp cận cân bằng trong việc thực thi thuế nhằm khuyến khích tự nguyện tuân thủ thông qua thay đổi thái độ và chuẩn mực.
Nghiên cứu của Al-Zaqeba & Al-Rashdan (2020) cho rằng tuân thủ thuế là một trong những vấn đề tồn tại lâu dài trên thế giới và trở thành mối quan tâm của nhiều chính phủ. Ở Jordan, tỷ lệ cao người không tuân thủ luật thuế là cá nhân như bác sĩ, kỹ sư và luật sư. Mục đích của nghiên cứu này là điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế cá nhân có thu nhập cao ở Jordan. Bài viết mở rộng Lý thuyết hành vi có kế hoạch với một số biến được lựa chọn là mức độ đạo đức, thuế hải quan và sự công bằng.
Đối tượng của nghiên cứu này là những cá nhân nộp thuế có thu nhập cao làm bác 8 sĩ y khoa, kỹ sư và luật sư ở Jordan. Nghiên cứu đã sử dụng cách lấy mẫu ngẫu nhiên, thu được tổng cộng có 485 câu trả lời đầy đủ và có thể sử dụng được đã được thu thập bằng cách sử dụng khảo sát bằng bảng hỏi. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS và PLS. Các phát hiện cho thấy cường độ đạo đức là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến tuân thủ thuế, tiếp theo là thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi cuối cùng là ảnh hưởng của xã hội.
Các phát hiện cho thấy rằng sự phức tạp ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ đối với luật thuế trong khi sự công bằng có tác động tích cực và đáng kể đến thái độ đối với luật thuế. Nghiên cứu của Hà & Yến (2021) được nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng, tổng hợp kết quả mẫu gồm 435 doanh nghiêp tham gia khảo sát. Mô hình hồi quy đưa ra kết quả cho thấy hệ thống thuế điện tử có tác động đáng kể và tích cực đối với việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Từ kết quả phân tích đó, nhóm tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng hệ thống thuế điện tử nhằm gia tăng mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp cũng như người nộp thuế.
Năm 2022, nhóm tác giả Hạnh & Thụy (2022) đã tiến hành nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố và thang đo cho các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp dưới góc độ của cơ quan quản lý thuế.