CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN TRỰC TUYẾN 1. Một số khái niệm cơ bản a) Thanh toán điện tử SVTH: Trần Quốc Tuyến Lớp: K45I2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 6 GVHD: Lê Xuân Cù Theo Ủy ban Châu Âu (EC), Thanh toán điện tử được hiểu là việc thực hiện các hoạt động thanh toán thông qua các phương tiện điện tử dựa trên việc xử lý truyền dữ liệu điện tử. 1 Theo nguyên nghĩa Tiếng Anh của từ electronic payment, TTĐT được hiểu là hoạt động thanh toán xử lý thông qua các kênh điện tử thay cho việc trao tay tiền mặt. Tiếp cận dưới góc độ tài chính, TTĐT được hiểu là việc chuyển giao các phương tiện tài chính từ một bên sang một bên khác thông qua các phương tiện điện tử.
Tiếp cận dưới góc độ viễn thông, TTĐT được hiểu là việc chuyển tải các thông tin về phương tiện thanh toán qua các mạng truyền thông hoặc qua các phương tiện điện tử khác. Tiếp cận dưới góc độ Công nghệ thông tin, TTĐT được hiểu là việc thanh toán dựa trên nền tảng công nghệ thông tin để xử lý các thông điệp điện tử, chứng từ điện tử giúp cho việc thanh toán được diễn ra nhanh chóng, an toàn và hiệu quả. Tiếp cận dưới góc độ phương tiện sử dụng, TTĐT được hiểu là việc sử dụng các phương tiện điện tử để thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ được mua bán. Tiếp cận dưới góc độ tự động hóa, TTĐT được hiểu là việc ứng dụng công nghệ chủ yếu là công nghệ thông tin để tự động hóa các giao dịch tài chính và các thông tin thanh toán.
Tiếp cận dưới góc độ trực tuyến, TTĐT được hiểu là việc chi trả cho các hoạt động thanh toán dịch vụ, trao đổi thông tin trực tiếp trên Internet cùng nhiều dịch vụ trực tuyến khác. Thanh toán điện tử sử dụng các chứng từ điện tử thay cho các chứng từ giao dịch truyền thống. Trên thế giới hiện nay phổ biến nhất có ba hình thức TTĐT, gồm: Thẻ tín dụng, séc điện tử và thanh toán qua e – mail. b) Thanh toán trực tuyến 1 Bài giảng: Thanh toán trong TMĐT – Đại học Thương Mại SVTH: Trần Quốc Tuyến Lớp: K45I2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: Lê Xuân Cù Cũng như TTĐT, cũng có nhiều khái niệm khác nhau về TTTT: Theo NetBuilder – một công ty cung cấp các dịch vụ trực tuyến thì “TTTT là giao dịch trao đổi giữa hàng và tiền theo những chuẩn nhất định thông qua các phương tiện truyền thông trực tuyến”.2 Theo báo cáo quốc gia về kỹ thuật TMĐT của Bộ Thương mại (cũ) thì “TTTT là việc trả tiền và nhận tiền hàng cho các hàng hóa, dịch vụ và được mua bán trên Internet thông qua các thông điệp điện tử thay cho việc trao tay tiền mặt”.
* Phân biệt thanh toán điện tử và thanh toán trực tuyến - Giống nhau: + Công cụ và phương tiện sử dụng: Cả hai đều không sử dụng tiền mặt, séc giấy, chứng từ có giá trị khác mà sử dụng các thiết bị, các phương tiện điện tử để thanh toán. + Môi trường hoạt động: Cả hai hình thức thanh toán đều hoạt động dựa trên các chuẩn chung như chuẩn chung về mặt pháp lý, chuẩn chung về hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin, các chuẩn về hệ thống bảo mật. - Khác nhau: + Quy mô hoặc phạm vi thanh toán: Về mặt bản chất, TTTT được xem là một tập hợp con của TTĐT. TTTT chủ yếu được tiến hành và thực hiện trên các website, còn các hình thức TTĐT đơn thuần thường được tiến hành thông qua các thiết bị điện tử như ATM, POS và bao gồm cả các hình thực thanh toán trên website.
Có rất nhiều các hình thức TTĐT không được xem là TTTT chẳng hạn như thanh toán qua ATM, POS vì nó vẫn bị giới hạn bởi các rào cản của không gian và thời gian. + Xác thực giao dịch: Trong TTĐT đơn thuần được thực hiện qua ATM hay POS yêu cầu khách hàng thanh toán phải xuất trình phương tiện thanh toán một cách vật lý để tiếp xúc với các thiết bị điện tử. Còn TTTT, khách hàng chỉ cần khai báo các thông tin về phương tiện thanh toán. 2 Malaysia Online Payment Terms & Glossary – NetBuilder http://www.my/html/modules/tinycontent/print.php?id=47 SVTH: Trần Quốc Tuyến Lớp: K45I2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 8 GVHD: Lê Xuân Cù + Truyền tải thông tin của phương tiện thanh toán: Khi KH thanh toán qua POS thì POS thông qua trung tâm xử lý dữ liệu thẻ để kết nối với ngân hàng phát hành thẻ.
Còn khi TTTT thì thông tin về phương tiện TTTT được truyền tới nhà cung cấp dịch vụ thanh toán trung gian (PSP) rồi tới trung tâm xử lý dữ liệu thẻ, tới ngân hàng phát hành thẻ. + Thời gian thực trong thanh toán: Đối với TTĐT đơn thuần qua ATM hay POS vẫn chịu sự bó buộc về không gian và thời gian (như ATM đặt quá xa,. Còn đối với TTTT cho phép các khách hàng tham gia thanh toán có thể thanh toán qua thời gian thực, bỏ qua được các giới hạn đỗi với TTĐT đơn thuần. Một số lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 1.
Sự phát triển của TTĐT và cơ sở ra đời của TTTT 1. Sự phát triển của TTĐT Con người theo sự tiến hóa, vì nhu cầu đòi hỏi đã trải qua các hình thái thanh toán khác nhau. Khởi đầu sơ khai nhất là thanh toán bằng hóa tệ (phi kim rồi đến kim loại), thanh toán bằng tiền giấy, ngày nay thanh toán bằng tiền điện tử đang dần trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Trong tất cả các phương tiện TTĐT, thanh toán bằng thẻ là phổ biến nhất và ra đời sớm nhất.
Năm 1924, tập đoàn xăng dầu của Mỹ đã cho ra đời tấm thẻ mua xăng đầu tiên, cho phép người dân sử dụng tấm thẻ này để mua xăng dầu tại các cửa hàng xăng dầu trên toàn quốc. Những năm 1950, do công nghệ Tổng hợp PVC ngày càng rẻ, từ ý tưởng của một doanh nhân người Mỹ, 200 chiếc thẻ đầu tiên làm bằng chất liệu Plastic đã được phát hành và cấp cho những người giàu có, có tiếng tăm trong xã hội Mỹ. Những tấm thẻ nhựa đầu tiên đó là do Diners Club phát hành và chỉ được sử dụng hạn chế trong một số nhà hàng, khách sạn, các khu giải trí sang trọng tại Mỹ lúc bấy giờ. Vào năm 1958, theo gót Diners Club, công ty American Express cho ra đời chiếc thẻ American Express (Amex) và nó đã SVTH: Trần Quốc Tuyến Lớp: K45I2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 9 GVHD: Lê Xuân Cù thống lĩnh thị trường, nhưng vì sự hạn chế là chỉ để sử dụng trong việc ăn uống, du lịch nên loại thẻ này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội.
Đến năm 1970, khi kỹ thuật điện toán bắt đầu phát triển cùng với những đột phá trong công nghệ vi xử lý đã dẫn tới việc thẻ thanh toán được ghép một mạch vi xử lý gọi là chip, có thể lưu trữ các thông tin về tài khoản và cung cấp mức độ bảo mật cao hơn rất nhiều lần so với thẻ băng từ do nó được cài đặt ở các chế độ đọc được nhưng không thể thay đổi hay xóa được. Năm 1974, Roland Marino là người đầu tiên đề xuất và tiến hành đăng ký bản quyền phát triển thẻ thông minh tại Pháp dựa trên việc tích hợp mạch vi xử lý trên thẻ. Lúc này công nghệ thẻ mới thực sự phát triển mạnh mẽ và trở thành một phần của thời kỳ thông tin. Năm 1965, Bank of America đã cấp giấy phép cho các ngân hàng lớn nhỏ khắp Hoa Kỳ, cho phép các ngân này cấp thẻ Bank Americard cho khách hàng sử dụng.
Năm 1969, hầu hết các thẻ do những ngân hàng độc lập cấp đều chuyển qua loại thẻ Bank Americard hoặc Master Charge Card. Tới năm 1977, thẻ của ngân hàng Bank of America được chấp nhận trên toàn cầu và thay vì tên Americard, thẻ Visa ra đời. Năm 1984, Ứng dụng đầu tiên của thẻ thông minh được công ty điện thoại của Pháp là Frand PTT ứng dụng trên các thẻ điện thoại. Sau thành công này, hàng loạt các ứng dụng mới của mạch vi xử lý bắt đầu được triển khai trong các thẻ thanh toán cho khách hàng.
Euro, Mastercard và Visa cùng nhau hợp tác phát triển ra chuẩn EMV. Cơ sở ra đời của TTTT Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và viễn thông đã thúc đẩy TMĐT phát triển mạnh mẽ, như một xu thế tất yếu đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng cũng như nhu cầu tìm kiếm khách hàng của các doanh nghiệp. Việc công nghệ hóa đời sống con người biến mọi giao dịch hàng ngày đều được thực hiện qua Internet. SVTH: Trần Quốc Tuyến Lớp: K45I2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 10 GVHD: Lê Xuân Cù Với lượng người truy cập ngày càng lớn, mạng Internet giờ đây không chỉ là nơi tìm kiếm, trao đổi thông tin mà nó đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp quảng cáo cũng như tiêu thụ sản phẩm của mình.
Chính điều này làm xuất hiện các giao dịch mua bán qua mạng, và TTTT có cơ hội ngày càng phát triển. Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, các website TMĐT hiện nay rất phổ biến các phương thức TTTT. Trong đó phải kể đến sự phát triển vượt bậc của phương thức thanh toán qua ví điện tử. Bên cạnh đó cũng không thể quên sự phát triển đa dạng của hệ thống thanh toán thẻ qua dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Internet Banking) mà các ngân phát hành thẻ cung cấp.
Lợi ích và hạn chế của TTTT - Lợi ích: + Không bị hạn chế về không gian và thời gian + Tiết kiệm được thời gian và đơn giản hóa quá trình thanh toán + Tính an toàn cao nhất là khi mua sắm các sản phẩm có giá lớn + Mất phương tiện thanh toán nhưng tiền trong tài khoản vẫn được an toàn. - Hạn chế: + Nguy cơ bị tiết lộ các thông tin tài chính cá nhân + Khó kiểm soát được việc chi tiêu. Các phương thức TTTT 1. TTTT qua hệ thống thẻ TTTT qua hệ thống thẻ được xem là hình thức thanh toán đơn giản cũng như phổ biến nhất hiện nay.
Phân loại theo công nghệ sản xuất, thẻ bao gồm: thẻ băng từ (Magnetic Stripe) và thẻ thông minh (Smart Card). Tuy nhiên cách phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ được nhiều người biết đến hơn cả, gồm 4 loại: Thẻ tín dụng (Credit Card), thẻ ghi nợ (Debit Card), thẻ rút tiền mặt (Cash Card) và thẻ lưu trữ giá trị(Stored Value Card).