CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NHẬN THỨC CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Một số nhận thức chung về DNNQD Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02 -9- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải quan 1.1 Khái niệm, đặc điểm của DNNQD Khái niệm DNNQD Doanh nghiệp NQD là một bộ phận của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta (Đại hội đảng IX) thông qua các chính sách, chiến lược phát triển cụ thể, tạo những biến đổi lớn trong nền kinh tế xã hội. Đối với các doanh nghiệp NQD trong quá trình đổi mới, Nhà nước ta đã ban hành các chính sách kinh tế nhằm tạo điều kiện cho thành phần kinh tế về lĩnh vực này phát triển như: việc ban hành Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp… Để đi sâu tìm hiểu về doanh nghệp NQD trước hết ta phải tìm hiểu khái niệm doanh nghiệp : “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
(Trích điều 3- Luật Doanh nghiệp năm 2005) Qua đó, ta có thể hiểu doanh nghiệp NQD là hình thức doanh nghiệp mà toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (No State Enterprise) được xác định: “gồm các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân của một người hoặc nhóm người hoặc sở hữu Nhà nước nhưng chiếm 50% vốn điều lệ trở xuống. Doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh gồm: các hợp tác xã, các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02 - 10 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải quan tư nhân, các công ty hợp danh, các công ty cổ phần tư nhân, các công ty có vốn Nhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống.” Đặc điểm của DNNQD Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp dù là thuộc khu vực ngoài quốc doanh hay Nhà nước đều lấy lợi nhuận là mục tiêu, là thước đo hiệu quả của hoạt động SXKD, cùng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự hướng dẫn của Nhà nước cùng tồn tại và cạnh tranh trong môi trường pháp lý. Tuy nhiên, xét về góc độ quản lý, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thuế, có những đặc điểm riêng của các doanh nghiệp ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế, thường là những thách thức nhiều hơn là những thuận lợi.
Thứ nhất là đặc điểm về sở hữu: Đây là đặc điểm khác biệt nhất, đối với doanh nghiệp NQD toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở hữu của Nhà nước nhưng mức độ sở hữu nhỏ hơn 50% tổng vốn điều lệ. Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu SXKD chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, do vậy họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất, kể cả việc trốn lậu thuế. Thứ hai là đặc điểm về trình độ văn hoá, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ: So với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế đầu tư nước ngoài thì phần lớn những người chủ các doanh nghiệp NQD có trình độ văn hoá chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độ chuyên môn chủ yếu là tự học hoặc theo kinh nghiệm. Vì vậy, nhìn chung hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp NQD còn thấp, số đông các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có mục đích chính là Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02 - 11 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải quan mua đi, bán lại để kiếm chênh lệch giá; còn một số lượng nhỏ hoạt động ở lĩnh vực sản xuất thì trình độ công nghệ thấp, trình độ quản lý không cao, do đó năng suất lao động và chất lượng hàng hoá đạt được là không cao.
Thứ ba là đặc điểm về ý thức tuân thủ pháp luật: Xuất phát từ trình độ còn hạn chế nêu trên, cho nên phần lớn các chủ doanh nghiệp có trình độ nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là rất thấp, biểu hiện rõ nhất là số đông các cơ sở kinh doanh không lập và giữ sổ sách kế toán theo quy định. Thứ tư là đặc điểm về số lượng đối tượng: Số lượng các cơ sở kinh doanh rất lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế, nhưng chủ yếu tập trung vào kinh doanh thương mại, dịch vụ, xây dựng, giao thông… đặc biệt là dịch vụ. Hiện nay ở Việt Nam, thị trường chứng khoán và thị trường tài chính dang phát triển mạnh do đó các doanh nghiệp NQD cũng bắt đầu xâm nhập vào thị trường này với sự xuất hiện của các ngân hàng cổ phần tư nhân ra đời và hoạt động có hiệu quả. Vị trí, vai trò của DNNQD Với chủ trương đổi mới nền kinh tế, Đại hội Đảng lần thứ VI(năm 1986) Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng phát triển kinh tế ở Việt Nam theo hướng kinh tế thị trường, theo định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân.
Các Đại hội Đảng lần thứ VII và VIII , đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế tiếp tục được khẳng định. Các thành phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế NQD bao gồm: kinh tế hợp tác, kinh tế hộ kinh doanh phát triển khá mạnh. Ngoài ra còn xuất hiện thêm thành phần kinh tế tư bản tư nhân với loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân. Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02 - 12 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải quan Các danh nghiệp NQD có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, điều này được thể hiện trên các khía cạnh sau: Thứ nhất, các doanh nghiệp NQD góp phần tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, đây là một nhân tố quan trọng làm gia tăng GDP của quốc gia.
Nó góp phần thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ hơn. Thứ hai, xét trong mối quan hệ với kinh tế quốc dân thì kinh tế NQD là một thực thể tồn tại vừa cạnh tranh vừa hợp tác. Nó như là nhân tố xúc tác quan trọng cho sự phát triển kinh tế nói chung và sự tồn tại, phát triển của kinh tế quốc doanh nói riêng. Doanh nghiệp NQD với số lượng ngày càng gia tăng đã trở thành đơn vị dịch vụ trung gian, xử lý tiêu thụ sản phẩm hoặc tham gia vào sản xuất gia công một phần, môt khâu trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp quốc doanh.
Thứ ba, trong việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN, khu vực kinh tế NQD đóng vai trò khá quan trọng. Hiện nay với tổng số khoảng 266.000 doanh nghiệp NQD, hàng năm kinh tế NQD nộp vào NSNN trên 45.000 tỷ đồng chiếm 19% số thu trong nước. Hàng hóa của các doanh nghiệp NQD rất phong phú, đa dạng, luôn thay đổi để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Thứ tư, doanh nghiệp NQD cũng góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp giúp nên kinh tế phát triển ổn đinh.
Từ đó hỗ trợ công tác giữ gìn ổn định trật tự xã hội, đẩy lùi tệ nạn xã hội. Tóm lại, doanh nghiệp NQD đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, tuy nhiên cũng cần thấy rằng sự phát triển của các doanh nghiệp này cũng còn có những hạn chế nhất định, điều này ít nhiều cũng gây ra những khó khăn không nhỏ trong công tác quản lý thuế Nhà nước nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng. Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02 - 13 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn cuối khóa Khoa Thuế- Hải quan 1. Xu hướng phát triển của DNNQD Các doanh nghiệp NQD hiện nay phát triển ngày càng nhiều và có xu hướng tăng cả về chất và lượng.
Nếu như năm 1991 cả nước chỉ có 414 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thì đến hết năm 2002 đã có gần xấp xỉ 50.000 doanh nghiệp NQD, và đến nay thì con số đó đã tăng lên rất nhiều lần. Các doanh nghiệp NQD hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trải rộng trên địa bàn cả nước. Do vốn ít nên thương có khả năng thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa và tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ là lớn nhất trong khu vực kinh tế NQD. Nét nổi bật của doanh nghiệp NQD trong thời gian gần đây là ngày càng phát triển về chiều sâu và chiều rông, có xu hướng gia tăng vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh tốt và ít thông dụng lao động.
Không chỉ tăng về số lượng và phong phú, đa dạng về ngành nghê, trong tình hình sản xuất kinh doanh có sự cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại và phát triển, nhìn chung khả năng đổi mới trang thiết bị và công nghệ trong những năm qua được các doanh nghiệp NQD chú trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm. Trong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia trên thế giới đã tạo điều kiện không nhỏ cho sự phát triển của các DN NQD trên cả nước. Các DN đã bắt đầu đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước. Nhiều cuộc tham quan, khảo sát đã được tổ chức tạo điều kiện cho chủ DN tiếp cận với thị trường và công nghệ hiện đại của các nước tiên tiến.
Cũng qua những chuyến khảo sát, tham gia hội chợ, nhiều DN Việt Nam đã ký được hợp đồng liên doanh, liên kết tiêu thụ sản phẩm với các DN nước ngoài.