ĐẶT VẤN ĐỀ Đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế trên đà phát triển mạnh mẽ, GDP luôn đạt ở mức cao so với thế giới, đời sống người dân ngày càng được nâng cao.Phát triển công nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu để nước ta thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Với tốc độ nhanh chóng và quy mô mạnh mẽ hàng loạt các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tập trung đã được thành lập, xây dựng và đi vào hoạt động theo chiến lược nền kinh tế công nghiệp quy mô lớn nhằm thực hiện thành công mục tiêu chiến lược của Nghị quyết Đại Hội Đảng lần XII phấn đầu đến năm 2020 “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển chính là những thách thức về vấn đề ô nhiễm môi trường, những thách thức này nếu không được giải quyết tốt có thể sẽ gây ra những thảm họa về môi trường và biến đổi khí hậu, tác động nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe người dân hiện tại và tương lai, phá hỏng những thành tựu công nghiệp, phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội…Mà một trong những nguyên nhân chính của ô nhiễm môi trường là ngành công nghiệp khai khoáng. Kinh tế - xã hội phát triển kéo theo nhu cầu sử dụng, khai thác khoáng sản ngày càng tăng.
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất nước.Trong những năm qua, ngành công nghiệp khai khoáng đã đóng vai trò quan trọng và tích cực trong sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam và nền kinh tế đất nước.Các hoạt động khoáng sản có sức ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế, xã hội và vấn đề cấp thiết cần quan tâm hàng đầu đó là môi trường nơi các hoạt động khai thác khoáng sản diễn ra. Nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình, Tuyên Hóa là huyện miền núi được thiên nhiên ưu ái ban tặng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, trong số đó phải kể đến nguồn tài nguyên khoáng sản như đá vôi, cát, vàng,… Khoáng sản đã góp phần đáng kể vào nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân, nâng cao dân trí, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương. Tuy nhiên, hoạt động khoáng sản cũng đã để lại nhiều hệ lụy đối với môi trường, nghiêm trọng nhất có thể thấy được ở đây là môi trường đất khi mà người dân nơi đây đời sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nông nghiệp mang lại nguồn thu nhập chính cho họ. Khai thác khoáng sản đã lấy đi một diện tích đất rất lớn cho phát triển sản xuất nông nghiệp của vùng, đồng thời gây ra những hậu quả nặng nề đối với đất đai khi hoạt động khai thác khoáng sản diễn ra, làm thay đổi bề mặt đất, suy thoái chất lượng 2 đất đai,… Bên cạnh những tác động đến môi trường đất hoạt động khai khoáng còn gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nước, không khí và đời sống kinh tế - xã hội của người dân trên địa bàn.
Hạn chế ô nhiễm môi trường, hướng tới phát triển bền vững trong khai thác khoáng sản đang là vấn đề cấp bách, nhận được sự quan tâm rất lớn của cộng đồng.Vậy làm thế nào để khai thác tối đa tiềm năng của vùng mà không gây ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất của người dân và đảm bảo những tiêu chuẩn về môi trường nơi diễn ra các hoạt động khoáng sản? Xuất phát từ thực tiễn đó cũng như nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của vấn đề, đề tài “Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất cho hoạt động khoáng sản ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình” được thực hiện. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU a. Mục tiêu tổng quát Phân tích thực trạng quản lý và sử dụng đất khai thác khoáng sản từ đó có những giải pháp thích hợp để sử dụng đất có hiệu quả. Mục tiêu cụ thể - Phân tích được thực trạng khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Phân tích được thực trạng quản lý, hiện trạng sử dụng đất khai thác khoáng sản. - Đề ra được những giải pháp sử dụng đất khai thác khoáng sản hiệu quả. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN a. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và đề xuất được các giải pháp tối ưu trong quá trình sử dụng đất khai thác khoáng sản ở huyện Tuyên Hóa.
Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần giúp các nhà quản lý nắm được thực trạng và những bất cập để điều chỉnh các quy định liên quan phù hợp. - Đề xuất các giải pháp hợp lý trong việc sử dụng đất khai thác khoáng sản ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái niệm về đất, đặc điểm và vai trò của đất đai 1. Khái niệm về đất Trước khi tìm hiểu khái niệm về đất đai, cần phải hiểu được khái niệm về đất. Về mặt thuật ngữ khoa học hai khái niệm này có sự phân biệt nhất định, cần phải phân biệt được “đất” và “đất đai”. Trong tiếng Anh đất tương đương với từ “soil” có nghĩa trùng với thổ hay thổ nhưỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của nó, còn đất đai tương đương với từ “land” có ý nghĩa về phạm vi không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ.
Theo nhà bác học người Nga V.Docuchaev (1846 – 1903): Đất trên bề mặt lục địa là một vật thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp cực kỳ phức tạp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và tuổi địa phương.Viliam (1863-1939) Viện sĩ thổ nhưỡng nông hóa Liên Xô (cũ) thì cho rằng đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng. Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa "đá mẹ" và đất là độ phì nhiêu, nếu chưa có độ phì nhiêu, thực vật thượng đẳng chưa sống được thì chưa gọi là đất. Độ phì nhiêu là khả năng của đất có thể cung cấp nước, thức ăn và đảm bảo các điều kiện khác để cây trồng sinh trưởng phát triển và cho năng suất[1]. Theo Dale & McLaughlin (1988) đất là “bề mặt của trái đất, vật chất phía dưới, không khí phía trên và tất cả những thứ gắn liền với đất”[15].Mác lại cho rằng: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”.
Còn khái niệm về đất đai được hiểu đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động, đồng thời là sản phẩm lao động. Khái niệm đất đai bao hàm nội dung mặt bằng lãnh thổ sử dụng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đất đai là bộ phận bao gồm các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Hay có khái niệm khác là “đất đai là một tổng thể vật chất gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”.
Có thể thấy rằng có rất nhiều khái niệm về đất, đất đai và khái niệm đầy đủ, phổ biến nhất hiện nay về đất đai đó là: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó 4 như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa. Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người[11]. Đặc điểm của đất đai Đất đai giới hạn về số lượng (diện tích). Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, các tư liệu sản xuất khác không ngừng được tăng lên về số lượng, riêng số lượng của đất đai bị giới hạn trong phạm vi ranh giới của lục địa[11].Bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, diện tích đất đai do kích thước của quả đất quyết định.
Trải qua nhiều lần biến hóa địa chất như hoạt động núi lửa, động đất, hoạt động tạo núi, sự xâm thực của gió, mưa,… và các hoạt động của con người nhưng tất cả các hoạt động này chỉ làm thay đổi hình thái của đất đai, ảnh hưởng tới chất lượng còn tổng lượng của đất đai thì không hề thay đổi. Trong khi đó, số lượng các tư liệu sản xuất khác sẽ tăng lên cùng với sự gia tăng của quá trình tái sản xuất, tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật con người cũng không thể làm tăng thêm được diện tích đất đai. Do vậy việc sử dụng hợp lý, triệt để đất đai và không ngừng làm tăng thêm hệ số sử dụng đất chính là một trong những biện pháp vô cùng quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu quản lý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số lượng, chất lượng đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng đất đai theo các thành phần kinh tế,.
và xu hướng biến động của chúng để có kế hoạch phân bố và sử dụng đất đai có cơ sở khoa học. Đất đai có vị trí cố định trong không gian. Đất đai là cố định về vị trí, không thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác.