ĐẶT VẤN ĐỀ Chương 2: TỔNG QUAN HVTH: VÕ KIỀU KHÔI NGUYÊN 4 MSHV: 1770110 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS. CHU VIỆT CƯỜNG Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ HVTH: VÕ KIỀU KHÔI NGUYÊN 5 MSHV: 1770110 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS. CHU VIỆT CƯỜNG CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Nội dung chương này nhằm trình bày qua cơ sở lý thuyết về NSLĐ, nâng cao NSLĐ, mô phỏng SKRR bằng Stroboscope và lược khảo lại các nghiên cứu có liên quan trước đây. Năng suất lao động 2.
Năng suất lao động Có khá nhiều định nghĩa về năng suất dựa trên các góc độ và quan điểm khác nhau tùy theo từng ngành nghề, lĩnh vực mà nó được áp dụng bao gồm nghiên cứu và thực tiễn. Tuy nhiên, theo khái niệm truyền thống và đơn giản nhất thì năng suất được thể hiện bằng tỷ số giữa giá trị tài đầu ra (output) và giá trị đầu vào (input). Nhưng bởi vì được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau nên cách đo lường cũng như cơ sở phân tích kết quả về NSLĐ về từng lĩnh vực riêng biệt là khác nhau, ứng với từng lĩnh vực sẽ có những quy chuẩn, chỉ tiêu riêng được đưa ra sao cho phù hợp nhất. Năng suất lao động được đưa ra để đánh giá mức độ hiệu quả của công việc mà con người làm được trong một đơn vị thời gian cụ thể, được thể hiện bằng số lượng thành phẩm đầu ra trong một khoản thời gian được quy định.
Theo từ điển Oxford, dựa trên hai đại lượng số lượng thành phẩm và thời tian sử dụng sẽ cho ra khái niệm năng suất, nó dùng để chỉ sự hiệu quả của một quá trình sản xuất. Theo từ điển kinh tế học của học viện Massachusetts Institute of Technology (MIT) thì năng suất là số đơn vị đầu ra dựa trên việc tiêu hao một đơn vị đầu vào duy nhất. Tăng năng suất được ám chỉ việc gia tăng vốn, nguồn lao động một cách có một hiệu tuy nhiên rất khó để đo lường riêng biệt giữa nguồn vốn và nguồn lao động dựa trên lượng đầu ra thực tế. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, NSLĐ là tỷ số giữa đơn vị đầu ra ứng với đơn vị đầu vào.
Đơn vị đầu ra là tổng giá trị quốc nội hoặc tổng giá trị gia tăng thì đơn vị đầu vào là số giờ công lao động hoặc số lượng lao động đang làm việc. HVTH: VÕ KIỀU KHÔI NGUYÊN 6 MSHV: 1770110 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS. CHU VIỆT CƯỜNG Theo Bộ thương mại Mỹ, NSLĐ là tỷ số giữa giá trị bằng tiền của đầu ra trên số giờ công lao động của đầu vào, là tỷ số giữa giá trị tài nguyên sử dụng đầu vào trên giá trị sản phẩm đầu ra; chỉ số đo lường áp dụng cho đầu vào và đầu ra sẽ khác nhau dựa trên vấn đề cụ thể. Theo Thomas and Mathews (1986) thì không có một khái niệm rõ ràng nào về năng suất tiêu chuẩn được qui định trong lĩnh vực xây dựng, rất khó để chỉ ra con số được năng suất tiêu chuẩn bởi vì có quá nhiều công tác thi công, quy mô công trình phức tạp nên các đơn vị sẽ dùng tiêu chuẩn năng suất riêng của mình.
Mặc dù có nhiều khái niệm về năng suất được đưa ra dựa trên nhiều góc độ, lĩnh vực được nghiên cứu tuy nhiên tổng quát thì năng suất chính là tỷ lệ giữa sản phẩm đầu ra và lượng đầu vào được sử dụng. Hai trong số rất nhiều công thức đo lường năng suất đã được áp dụng trước đây gồm: Công thức thứ hai thường được sử dụng rộng rãi hơn và được định dạng cụ thể cho riêng lĩnh vực xây dựng bằng công thức: Công thức trên xác định NSLĐ dựa trên hai đại lượng là thời gian làm việc thực tế và số lượng thành phẩm cho ra, theo công thức trên thì NSLĐ cao thì hệ số thấp, NSLĐ thấp thì hệ số cao. Một số công thức khác được đưa ra theo từng lĩnh vực, như là công thức cho các ngành là kinh tế: HVTH: VÕ KIỀU KHÔI NGUYÊN 7 MSHV: 1770110 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS. CHU VIỆT CƯỜNG Công thức trên đo lường lượng input và output đều dựa trên đơn vị đo lường là chi phí nên rất phù hợp với lĩnh vực kinh tế nhưng nó không phù hợp với lĩnh vực xây dựng vì ngoài chi phí thì còn rất nhiều chỉ số khác liên quan đến NSLĐ trong ngành xây dựng, nếu chỉ áp dụng chi phí thì vào việc đo lường thì sẽ không đánh giá được các vấn đề thực tế (Thomas vcs, 1990).
Dựa trên từng trường hợp khác nhau mà các công thức đo lường khác nhau được đưa ra trong ngành xây dựng như sau: Công thức trên được đơn vị thi công Federal Highway Administration sử dụng để đo lường năng suất, là tỷ lệ giữa lượng đầu ra sản xuất được trên tổng chi phí của quá trình thiết kế, khảo sát, thi công và sử dụng; với công thức trên thì chỉ số năng suất càng cao thì công việc càng hiệu quả và ngược lại. Trong một mô hình khác, thì công thức sau được áp dụng: Công thức trên đo lường năng suất dựa trên tỷ lệ giữa lượng đầu ra trên tổng chi phí cho nhân công, trang thiết bị và vật tư sử dụng. Cũng giống như công thức trước, trong công thức đo lường này thì chỉ số năng suất càng cao thì quá trình quả xây dựng càng hiệu quả. Sau cùng, công thức xác định NSLĐ được đưa ra vào phạm vi luận văn lần này sẽ là: HVTH: VÕ KIỀU KHÔI NGUYÊN 8 MSHV: 1770110 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS.
CHU VIỆT CƯỜNG Năng suất lao động sẽ được xác định dựa trên tỷ số giữa khối lượng tường hoàn thiện thi công được (m2) trên số giờ công làm việc (h). Dựa trên công thức dược áp dụng, thì chỉ số NSLĐ càng lớn thì công việc càng đạt hiệu quả cao và ngược lại. Nâng cao năng suất lao động Dựa theo công thức được áp dụng cho nghiên cứu, những các cách để tối ưu chỉ số NSLĐ sẽ là: - Giảm lượng tài nguyên sử dụng (input) và giữ nguyên hoặc gia tăng lượng sản phẩm tạo ra (output). - Giữ nguyên lượng tài nguyên sử dụng (input) và tăng lượng sản phẩm tạo ra (output).
- Tăng lượng tài nguyên sử dụng (input) và gia tăng lượng sản phẩm tạo ra (output). Đề tài nghiên cứu sẽ áp dụng cả 3 trường hợp nêu trên vào quá trình nâng cao, cải tiến năng suất lao động bằng cách điều chỉnh sao cho số tổ đội, nhân công, lượng tài nguyên được dùng là tối ưu nhất để cho ra sản phẩm đầu ra là khối lượng tường hoàn thiện thi công được là cao nhất. Các phường pháp đo lường năng suất lao động 2. Phương pháp trực tiếp - Unit/Man-Hour: là một trong hai phương pháp cơ bản nhất để đo lường năng suất được áp dụng trong ngành xây dựng vì nó rất thuận tiện và dễ áp dụng.
Nó dược áp dụng hầu hết cho tất cả các công tác, quy trình thi công vì tính tiện lợi trong việc thu thập dữ liệu, tiết kiệm kinh phí và thời gian. Phương pháp trên được xét trên tỷ số giữa số lượng thành phẩm đạt được trên số giờ công lao động cần sử dụng (Thomas and Mathews 1986). - Cost/Unit: Đây là phương pháp đo lường năng suất cơ bản thứ hai, cũng như phương pháp trên nó được sử dụng phổ biến vì tính tiện lợi của nó nhưng nó chỉ được áp dụng cho các qui trình sản xuất đơn giản, không thể đo lường chính xác khi áp dụng vào trường hợp có tính phức tạp cao. Về mặt ý nghĩa, phương pháp trên đo lường dựa HVTH: VÕ KIỀU KHÔI NGUYÊN 9 MSHV: 1770110 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS.
CHU VIỆT CƯỜNG trên chi phí bỏ ra trên một đơn vị thành phẩm bao gồm: trang thiết bị, vật liệu đầu vào, tiền công lao động và chi phí bị hao hụt trong lúc vận hành. - Cost (chi phí): được áp dụng khá phổ biến trong ngành xây dựng, đó là việc so sánh giữa chi phí phải trả thực tế để tạo một khối lượng sản phẩm so với khoản chi phí đã được lên kế hoạch từ trước, trong ngành xây dựng nó là sự đánh giá giữa chi phí thực tế thi công và chi phí dự toán đã được xét duyệt. Phương pháp này được áp dụng nhiều vì tính trực quan của nó, hỗ trợ cho người quản lý có nắm được tình hình ban đầu, khái quát nhất giữa các loại chi phí được so sánh với nhau (Alfeld 1988, Thomas and Kramer 1988). - On-time completion (tiến độ hoàn thành): lĩnh vực xây dựng úng dụng cách này rất nhiều, nó dựa trên tỷ lệ giữa thời gian thực tế thi công so với thời gian trong tiến dộ đã có từ trước.
Giống như phương pháp cost chỉ đánh giá được về một khía cạnh đó là chi phí thì phương pháp này cũng chỉ đánh giá được một yếu tố đó là thời gian, để bổ trợ cho nhau thì hai phương pháp chi phí và tiến độ hoàn thành thường được sử dụng chung với nhau nhằm nhận xét toàn diện hơn về vấn đề cần đo lường. Ngoài ra, còn rất nhiều cách đo lường trực tiếp khác được đưa ra và sử dụng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, một vài phương pháp như là: PP quản lý nguồn tài nguyên (Resourse Management), PP Quality Control/ Rework, PP Percent Complete, PP Earned Man – Hour, PP Lost Time Accourting… 2. Phương pháp gián tiếp - Work Sampling (lấy mẫu công việc): Đây là phương pháp rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong công tác đánh giá hiệu quả công việc của các bộ phận quản lý, phương pháp này được đo lường bằng cách quan sát thời gian làm việc thực tế của công nhân tại nơi làm việc dựa trên nguyên tắc của phương pháp thông kê, cả cơ sở lý thuyết và kỹ thuật lấy mẫu. - Work Study (nghiên cứu công việc): Phương này pháp là một trong những phương pháp được áp dụng từ rất lâu đời, từ thập niên năm mươi của thế kỷ trước, nó tập trung nghiên cứu những điểm tốt và chưa tốt của từng bộ phận tham gia vào thi công thực tế bao gồm cả cấp quản lý dự án, công nhân, tổ đội thi công trực tiếp nhằm tìm cải tiến năng suất của dự án đang được thi công.
HVTH: VÕ KIỀU KHÔI NGUYÊN 10 MSHV: 1770110 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS.