Đặt vấn đề Trong cuộc sống hiện đại, có nhiều công trình xây dựng được sử dụng cho nhiều mục đích phục vụ xã hội. Kết cấu cầu là một loại công trình được sử dụng rộng rãi giúp tăng cường mức độ giao thông, vận tải từ đó mà góp một phần lớn cho sự phát triển kinh tế, thị trường. Việt Nam là một quốc gia có hệ thống sông ngòi lớn vì vậy mà số lượng cầu được xây dựng và khai thác cũng rất nhiều. Từ đó mà một vấn đề cấp thiết cần được chú trọng thực hiện và nâng cao độ chính xác đó là công tác giám sát kiểm tra sức khỏe kết cấu cầu.
Do cầu là kết cấu được khai thác cho mục đích giao thông nên phải chịu những trường hợp tải trọng lớn, ngẫu nhiên, bất ổn định và đa dạng. Những trường hợp tải trọng này có thể gây ra những hư hại cho kết cấu một cách nhanh chóng. Ngoài ra, tác động của môi trường, lão hóa, thiên tai cũng ảnh hưởng lớn đến kết cấu cầu theo nhiều phương diện. Có thể gây ra suy giảm về cơ tính vật liệu hay hư hại về mặt kết cấu của cầu.
Như vậy, việc giám sát độ bền của cầu càng trở nên quan trọng vì sự an toàn của kết cấu cầu có thể ảnh hưởng tới kinh tế, giao thông và đặc biệt là tính mạng con người.2 Mục đích nghiên cứu Công trình cầu là kết cấu chịu dao động khi tải động đi qua. Trong điều kiện làm việc thực tế, hầu hết các phương tiện tải trọng đủ lớn đều có khả năng làm dầm cầu dao động. Những đặc trưng dao động thể hiện tình trạng của kết cấu cầu. Tuy nhiên, với việc thực hiện kiểm tra dưới trường hợp tải tĩnh cố định sẽ tạo ra những chuyển vị khác biệt với biên độ khi cầu dao động.
Điều này khiến cho việc kiểm định bằng tải trọng tĩnh không đánh giá được tổng thể tình trạng của kết cấu cầu. Hơn nữa, hiện nay công tác thực hiện kiểm định bằng những tải trọng tĩnh tiền định (biết trước) đòi hỏi quá trình thực hiện phức tạp, kinh phí lại rất cao, do đó thời gian giữa các lần thực hiện kiểm định là rất dài. Những vấn đề này có thể được giải quyết nếu có thể xác định tình trạng kết cấu thông Cơ kỹ thuật Nguyễn Nhật Tâm 1970362 2 qua tín hiệu đo dao động cầu dưới tải trọng động thực tế. Với ưu điểm đo đạc dễ dàng và chi phí thấp.
Những đáp ứng đo dao động được chứng minh là bao hàm các đặc trưng có độ nhạy cao với sự thay đổi cơ học của kết cấu. Phương pháp nhận diện hư hại kết cấu dựa trên dao động được tiếp cận dựa trên hai nhánh chính: các phương pháp dựa trên mô hình (model-based methods) và các phương pháp không dựa trên mô hình (non-model based methods). Các quá trình trích xuất đặc trưng có thể được thực hiện trong ba miền cơ bản: miền thời gian, miền tần số và miền thời gian – tỉ lệ. Nhiều thông số dao động được đề xuất để phục vụ các mức độ giám sát hư hại như: nhận diện hư hại, định vị hư hại, xác định loại hư hại, định lượng hư hại.
Những biện pháp giám sát kết cấu dựa trên tín hiệu dao động hiện đang được nghiên cứu và phát triển rộng rãi bên cạnh các phương pháp cục bộ khác ( Hình 1. Các bài toán giám sát, chuẩn đoán hư hại [1] Cơ kỹ thuật Nguyễn Nhật Tâm 1970362 3 Có nhiều phương pháp nhận diện hư hại kết cấu dựa trên dao động được nghiên cứu và phát triển. Những phương pháp này đề xuất những kỹ thuật trích xuất đặc trưng dao động từ những đáp ứng đo lường (chuyển vị, biến dạng, gia tốc, …) để phục vụ công tác nhận diện hư hại kết cấu. Và các nghiên cứu này chứng minh rằng dữ liệu dao động của kết cấu là cơ sở dữ liệu chứa đựng nhiều đặc trưng tiềm năng cho việc giám sát tình trạng kết cấu.
Đáp ứng lại sự cần thiết của công tác giám sát kiểm tra kết cấu cầu, luận văn được thực hiện với mục đích nghiên cứu là thành lập được một phương pháp chuyên dụng để giám sát tình trạng kết cấu của cầu dựa trên đánh giá tình trạng của cơ tính vật liệu.3 Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi giới hạn về thời gian, nhân lực và yêu cầu của một luận văn thạc sĩ nên đối tượng chủ yếu trong nghiên cứu này là dầm cầu thực tế (dầm tựa hai đầu). Phạm vi nghiên cứu là khảo sát mức độ mất mát năng lượng của dao động dầm. Đối với mức độ mất mát năng lượng dưới tải trọng ngẫu nhiên của dầm cầu thực tế thì sự phân bố giá trị là một đặc tính quan trọng và sẽ được chú trọng xử lý. Sự phân bố các giá trị mất mát năng lượng được đánh giá thông qua một thông số là hệ số tiêu tán (loss factor).
Sự thay đổi về giá trị và phân bố của các hệ số tiêu tán này sẽ thể hiện tình trạng hiện tại của kết cấu. Thông số này được xác định bởi ảnh hưởng của cả hai đặc trưng cơ tính bao gồm tính đàn hồi và tính cản nhớt của vật liệu và kết cấu. Trong nghiên cứu này, hệ số tiêu tán được tính toán xác định từ những đặc trưng dao động (liên hệ thông qua mối quan hệ với các đặc trưng cơ tính). Với một kết cấu dầm cầu trong thực tế, việc sử dụng cảm biến để đo đạc các tín hiệu dao động là đơn giản và chi phí thấp.
Kết cấu cầu là một loại kết cấu quan trọng làm việc dưới tải trọng lớn dẫn đến nguy cơ suy giảm cơ tính vật liệu và kết cấu có khả năng xảy ra rất nhanh. Vì đó mà việc giám sát sức khỏe kết cấu đối với cầu trở nên cấp thiết và quan trọng. Quá trình giám sát chú trọng đến sự hư hỏng về mặt kết cấu với thông số điển hình là độ cứng đã được thực hiện nhiều. Tuy nhiên, việc giám sát về mặt suy giảm cơ tính vật liệu thì còn rất ít được nghiên Cơ kỹ thuật Nguyễn Nhật Tâm 1970362 4 cứu.
Do đó, nghiên cứu này sẽ thực hiện khảo sát sự suy giảm cơ tính vật liệu của kết cấu cầu thông qua độ mất mát năng lượng theo phương thức. Thông số được sử dụng khảo sát là hàm hệ số tiêu tán năng lượng. Đáng chú ý, thông số này thể hiện ảnh hưởng của cả tính đàn hồi và tính cản nhớt của vật liệu từ đó mà sự đánh giá trở nên toàn diện hơn. Dữ liệu dao động là phổ mật độ công suất được sử dụng làm cơ sở tính toán hàm hệ số tiêu tán.
Luận văn thực hiện với số liệu mô phỏng các tình trạng suy yếu vật liệu bê tông cốt thép. Ứng với mỗi tín hiệu dao động sẽ cho một tập giá trị các hệ số tiêu tán và sự phân bố tập giá trị này được xem xét để đánh giá mức độ cơ tính vật liệu. Với dữ liệu mẫu từ mô phỏng các mức độ cơ tính vật liệu, luận văn đề xuất kỹ thuật học sâu (deep learning) là mạng nơ-ron tích chập để đào tạo một hệ thống phân loại tình trạng kết cấu thành các mức độ tương ứng như trên. Với đầu vào được xây dựng là hình ảnh phân bố tập hệ số tiêu tán được hồi quy thành một mặt phẳng thông qua phép nội suy khối.
Như vậy, các tình trạng cơ tính vật liệu sẽ được phân thành các tình trạng tương ứng với các mức độ cơ tính vật liệu được khảo sát mô phỏng và dùng làm cơ sở dữ liệu. Kết quả phân loại này phục vụ cho quá trình giám sát và quyết định bảo trì, sửa chữa. Mục tiêu nghiên cứu là sử dụng deep learning để khảo sát được mức độ mất mát năng lượng của dầm cầu khi chịu tải tự nhiên (tải làm việc của cầu). Luận văn sử dụng deep learning để phân loại các tình trạng kết cấu của cầu đặc trưng cho các mức độ suy yếu về cơ tính vật liệu và kết cấu.
Phương pháp được xây dựng để đánh giá tình trạng của kết cấu dầm cầu và phục vụ cho công thác theo dõi sức khỏe kết cấu cầu: - Dựa trên dữ liệu dao động thực tế của kết cấu cầu tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. - Khảo sát thay đổi quan hệ thay đổi cơ tính với thay đổi các đặc trưng dao động. - Đánh giá độ mất mát năng lượng và xác định mức độ tối ưu. - Deep learning phân loại tình trạng kết cấu cầu dựa trên mạng nơ-ron tích chập.
Cơ kỹ thuật Nguyễn Nhật Tâm 1970362 5 Chương 2. Tổng quan tài liệu Theo dõi sức khỏe kết cấu (Structural Health Monitoring—SHM) tập trung vào cải thiện hiệu suất và an toàn kết cấu, và có rất nhiều các nghiên cứu liên quan vấn đề này trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật [2-5]. Tổng thể, những suy yếu hoặc hư hại trong kết cấu dẫn đến những sự thay đổi bất thường trong những đáp ứng đo được [6-9]. Những đáp ứng dao động (như chuyển vị, biến dạng, gia tốc, …) thường được chọn là các đáp ứng được đo đạc.
Các đại lượng này được đo lường dễ dàng và chứa đựng các đặc trưng dao động thể hiện điều kiện hiện tại của kết cấu. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng các đặc trưng dao động có độ nhạy cao với hư hại và suy yếu kết cấu [10-14]. Theo đó, nhận diện hư hại dựa trên dao động (Vibration-Based Damage Detection—VBDD) đã được phát triển và được nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi. VBDD tập trung vào khai thác các đặc trưng có độ nhạy cao với hư hại để xác định điều kiện hiện tại của kết cấu [15, 16].
Với các phương pháp và công nghệ hiện đại, VBDD kết hợp với các mạng thần kinh nhân tạo (artificial neural network) ngày càng được phát triển [17-19]. Hầu hết các phương pháp VBDD có thể được phân loại thành hai dạng: dựa trên mô hình (model-based methods) và không dựa trên mô hình (non-model-based methods). Các phương pháp dựa trên mô hình [20-22] thường được sử dụng nhiều hơn do phương pháp này dễ dàng trong việc điều khiển các thay đổi cơ học và từ đó dẫn đến các thay đổi tương ứng của các đặc trưng dao động. Tuy nhiên, hạn chế chính của cách tiếp cận này đó là các kịch bản thay đổi cơ học trong nghiên cứu có thể không phù hợp với những diễn biến xảy ra trong kết cấu thực tế.
Ngược lại, các phương pháp không dựa trên mô hình gặp khó khăn trong việc xây dựng một cơ sở dữ liệu lớn tương ứng với các điều kiện kết cấu thực tế [23].