CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN dựng bộ dữ liệu để phân tích khả năng chịu uốn thuần túy của cấu kiện CFST, tuy nhiên lại chưa đề xuất được các phương pháp tính toán cụ thể cho tiết diện CFST.s [15] đã tiến hành thí nghiệm uốn thuần túy với 3 mẫu CFST tròn thuộc tiết diện mảnh (slender) có fy=400 MPa và f’c=19.4 MPa, cùng với đó là 9 mẫu CFST tròn thuộc tiết diện đặc chắc (Compact) có fy=365-456 MPa và f’c=19. Nghiên cứu cỏ Elchalakani và cộng sự đã đề xuất được một mô hình đơn giản để tính toán khả năng chịu uốn cho tiết diện CFST tròn, khi so sánh với kết quả thí nghiệm trong nghiên cứu này, mô hình được đề xuất cho kết quả dự đoán tốt với các mẫu có tiết diện đặc chắc (Compact), nhưng lại quá an toàn đối với các mẫu “slender”, mặt khác bộ dữ liệu của nghiên cứu còn hạn chế nên chưa xác thực được độ tin cậy của mô hình tính toán khả năng chịu uốn cho tiết diện CFST tròn được đề xuất. Năm 2004, Han [16] đã thực hiện thí nghiệm uốn thuần túy với 16 mẫu CFST có tiết diện hình chữ nhật sử dụng vật liệu thép có fy=293.1 MPa và bê tông có f’c=22.7 MPa, đồng thời đề xuất được công thức đơn giản để tính toán khả năng chịu uốn cho tiết diện CFST, công thức này sau đó được so sánh với các kết quả thí nghiệm từ các nghiên cứu trước, kết quả tính toán cho thấy phương pháp tính toán của Han là hiệu quả cho tiết diện chữ nhật, nhưng lại quá an toàn đối với tiết diện CFST hình tròn, do đó mô hình này chưa thể thống nhất cách tính toán cho các mẫu tiết diện tròn. Mô hình được Han đề xuất được nghiên cứu mở rộng bỏi Han và c.s năm 2006 [17], mô hìn này được sử dụng để xem xét các mẫu thí nghiệm với bộ dữ liệu được mở rông, kết quả cũng tương tự với nghiên cứu năm 2004, cho thấy công thức chưa thực sự hiệu quả đối với việc tính toán cường độ chịu uốn thuần túy của tiết diện CFST tròn.
Gho và Liu 2004 [18], Wheeler và Bridge 2006 [19] đã lần lượt thực hiện thêm các thí nghiệm về ứng xử của cấu kiện CFST chịu uốn thuần túy, tuy nhiên cả hai tác giả trên đều chưa đề xuất được mô hình thay thế hiệu quả cho cả tiết diện CFST tròn hoặc tiết diện chữ nhật, các nghiên cứu này góp phần bổ sung vào bộ dữ liệu khảo sát cho các nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Năm 2009, Chitawadagi và Naraimhan [20] đã tiến hành thêm thử nghiệm về ứng xử uốn thuần túy của tiết diện CFST tròn với 18 mẫu thử nghiệm sử dụng thép có fy=250 MPa và bê tông có f’c=21. Tác giả đã đề xuất một mô hình tương tác để tính toán khả năng chịu uốn cho tiết diện CFST tròn sử dụng bộ dữ liệu gồm 99 mẫu sử dụng bê tông có f’c=20-40 MPa và D/t=22.8 MPa, kết quả thu được từ mô hình này đã cho thấy kết quả chấp nhận được đối với các mẫu tiết diện tròn nhưng lại quá an toàn đối các mẫu tiết diện CFST hình chữ nhật, vì vậy mô hình này chưa thể thống nhất được cách tính toán khả năng chịu uốn thuần túy cho tiết diện CFST phổ biến. Li và cộng sự, 2017 [21] đã tiến hành thử nghiệm thêm 6 mẫu CFST tiết diện vuông chịu uốn thuần túy sử dụng vật liệu cường độ cao với thép có fy= 416.6 MPa và bê tông có f’c=87.2 MPa, nghiên cứu đã chỉ ra rằng kết quả dự đoán khả năng chịu uốn thuần túy của tiết diện CFST với công thức đơn giản của Eurocode 4, phát hành năm 2004 cho thấy tính hiệu quả cao với 6 kết quả thử nghiệm này.
Tuy nhiên, tập hợp mẫu này còn khá hạn chế về số lượng và chỉ giới hạn với tiết diện CFST chữ nhật sử dụng vật liệu cường độ cao, nên các nghiên cứu khác với tập hợp mẫu lớn hơn cho cả tiết diện CFST tròn và chữ nhật sử dụng vật liệu cường độ cao cần được xem xét thêm trong các nghiên cứu tiếp theo. Năm 2017, Xiong và cộng sự [22] đã tiến hành thêm các thử nghiệm uốn thuần túy cho nhiều loại cấu kiện CFST sử dụng vật liệu cường độ cao như thép có fy lên đến 780 MPa và bê tông có f’c lên đến 180 MPa, các kết quả thử nghiệm này được dùng để so sánh với kết quả tính toán từ công thức đơn giản của Eurocode 4 cho cường độ chịu uốn và độ cứng kháng uốn của tiết diện CFST. Nghiên cứu này kết luận kết quả tính toán đối với cường độ chịu uốn và dộ cứng kháng uốn theo mô hình đơn giản của Eurcode 4 là không an toàn. Các thử nghiệm khác về cấu kiện CFST chịu uốn thuần túy khác cũng đã được thực hiện bởi các tác giả khác như Lu và cộng sự, 2007, Nghiem và cộng sự, 2018, Al-Shaar và Göğüş, 2018, Liu và cộng sự, 2020, Huang và cộng sự, 2020, Fang và Han, 2022, Yang và cộng sự, 2022, Roeder và cộng sự, 2016 [23]–[30].
Các nghiên cứu này tuy chưa đề xuất được mô hình tính toán đơn giản nào hiệu quả hơn, nhưng 6 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN đã cung cấp thêm nguồn dữ liệu để xác thực các mô hình tính toán khả năng chịu uốn của cấu kiện CFST. Năm 2021, Wang và cộng sự [31] đã tiến hành nghiên cứu về ứng xử uốn của cấu kiện CFST có tiết diện chữ nhật sử dụng vật liệu cường độ cao. Trong nghiên cứu này, 14 mẫu thí nghiệm uốn thuần túy đối với cấu kiện CFST tiết diện chữ nhật đã được tiến hành, bên cạnh đó 30 kết quả thí nghiệm uốn thuần túy của tiết diện CFST tiết diện chữ nhật sử dụng vật liệu cường độ cao cũng đã được tác giả tổng hợp để xem xét ảnh hưởng của các tham số lên kết quả thí nghiệm. Một mô hình phần tử hữu hạn chi tiết cũng đã được tác giả phát triển để nghiên cứu ảnh hưởng của các tham số như: cường độ nén của bê tông, cường độ chảy dẻo của thép và chiều cao của ống thép.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: (1) cường độ kháng uốn của cấu kiện CFST tiết diện chữ nhật sử dụng vật liệu cường độ cao tăng khi ứng suất chảy dẻo của thép và bề rộng của ống thép tăng nhưng giảm khi độ mảnh tiết diện tăng; (2) độ cứng kháng uốn của cấu kiện CFST tiết diện chữ nhật sử dụng vật liệu cường độ cao tăng khi tăng bề rộng của ống thép hoặc khi dộ mảnh của tiết diện tăng, nhưng không bị ảnh hưởng đáng kể bởi ứng suất chảy dẻo của ống thép; (3) Ảnh hưởng của cường độ nén bê tông là rất nhỏ. Nghiên cứu của Wang và cộng sự cũng chỉ ra rằng tiêu chuẩn AISC 360-16 có thể dự đoán độ cứng một cách phù hợp cường độ chịu uốn của cấu kiện CFST tiết diện chữ nhật sử dụng vật liệu cường độ cao, trong khi tiêu chuẩn AIJ cung cấp kết quả dự đoán chính xác đối với độ cứng kháng uốn sử dụng (service-level flexural stiffness). Bên cạnh các thí nghiệm được thực hiện, có nhiều phương pháp cũng được phát triển để tính toán khả năng chịu uốn cho tiết diện ống thép nhồi bê tông, phổ biến nhất là phương pháp sử dụng mô hình phân bố ứng suất với giả thiết tiết diện chảy hoàn toàn theo tiêu chuẩn Eurocode 4 và AS/NZ 2737, ngoài ra còn có AISC 360-16 với sự bổ sung của việc phân loại tiết diện cùng các công thức tình toán cường độ chịu uốn phù hợp cho từng loại tiết diện. Tuy nhiên đây là những mô hình đơn giản phục vụ cho thực hành nên chưa mang lại giá trị chính xác cho việc nghiên cứu khả năng chịu uốn của tiết diện CFST, đặc biệt khi sử dụng vật liệu cường độ cao.
Để đáp ứng nhu cầu này Liang [32] đã đề xuất phương pháp phân tích phi tuyến sử dụng phần tử 7 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN thớ (nonliner fiber element analysis method) để xác định các biểu đồ tương tác tải trọng dọc trục - cường độ mô men đối với các cột bê tông hình ống thép ngắn (CFST) dưới tải trọng dọc trục và uốn hai trục, nghiên cứu đã kết luận kỹ thuật phân tích thớ phần tử (fiber element analysis technique) được đề xuất có thể được sử dụng trực tiếp trong thiết kế dầm - cột CFST trong thực tế và được thực hiện trong phân tích nâng cao của các cột và khung liên hợp mảnh mai (slender). Lần lượt sau đó các bài nghiên cứu của Liang [33]–[35] đã ứng dụng phương pháp phân tích thớ phần tử cho phân tích dựa trên khả năng (performance-based analysis - PBA) để tính toán thực hành khả năng chịu lực của cấu kiện ống thép nhồi bê tông và so sánh với các kết quả tính toán khác, các báo cáo này cũng chỉ ra rằng: (1) kỹ thuật PBA được phát triển dự đoán rất tốt hiệu suất độ cứng, độ bền và độ dẻo của cột-dầm CFST thành mỏng dưới tải trọng dọc trục và uốn hai trục và có thể được sử dụng trực tiếp trong thiết kế dựa trên hiệu suất của cột-dầm (beam-column) CFST thành mỏng, (2) sự mất ổn định cục bộ của các ống thép làm giảm đáng kể độ cứng, độ bền và độ dẻo của dầm - cột CFST thành mỏng và phải được tính đến trong thiết kế dựa trên khả năng (performance- based design). Các kết quả nghiên cứu này cho thấy tiềm năng của phương pháp phân tích phần tử thớ. Tuy nhiên, các bài báo này tập trung chủ yếu vào kết quả của thí nghiệm cột CFST chịu nén và chịu nén uốn đồng thời, với số lượng mẫu nhỏ và chưa ứng dụng được cho tiết diện CFST chịu uốn thuần túy.
Năm 2021, Anwar và Akansha [36] đã xuất bản nghiên cứu của mình về tiềm năng của biểu đồ Moment – độ cong trong việc phân tích ứng xử của các cấu kiện chịu nén và chịu uốn như dầm, cột và tường chịu cắt. Nghiên cứu đã nêu rõ những thông số có thể thu được từ biểu đồ moment – độ cong như: độ cứng tiết diện, độ dẻo, góc xoay, độ võng, khoảng cách và bề rộng vết nứt, cùng với đó là tiềm năng phát triển chương trình tính toán dựa trên biểu đồ moment – độ cong.