Tổng quan nghiên cứu

Năng suất lao động toàn nền kinh tế Việt Nam đạt mức 93,2 triệu đồng trên một lao động, tương đương khoảng 4.166 USD. Mặc dù tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011–2017 đạt 4,7% mỗi năm, khoảng cách về năng suất giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á vẫn còn rất lớn. Đáng chú ý, khu vực nông nghiệp thu hút tới 40,3% lực lượng lao động của cả nước với khoảng 21,6 triệu người, nhưng mức năng suất lao động chỉ đạt 35,5 triệu đồng trên một lao động, tương đương 38,1% mức trung bình toàn quốc.

Thực trạng năng suất thấp này tác động trực tiếp đến ngành thủy lợi, lĩnh vực hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Sau khi thực hiện chính sách cấp bù thủy lợi phí theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP, nhiều đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi rơi vào tình trạng hoạt động bao cấp. Quỹ chi trả tiền lương tại các doanh nghiệp này thường chiếm từ 50% đến 70% tổng nguồn thu ngân sách cấp, dẫn đến nguồn vốn dành cho bảo dưỡng và nâng cấp công trình bị thu hẹp đáng kể.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá thực trạng năng suất lao động, xác định các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thủy lợi Tây Nam Nghệ An. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào chuỗi dữ liệu sản xuất kinh doanh giai đoạn 2005–2017 và khảo sát thực tế chuyên sâu trong năm 2018 tại 4 huyện miền núi gồm Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương và Kỳ Sơn. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để tái cơ cấu bộ máy quản lý, hạ tỷ lệ chi phí tiền lương xuống dưới 50%, tối ưu hóa diện tích tưới tiêu và bảo đảm hiệu quả kinh tế bền vững cho doanh nghiệp thủy nông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết giá trị lao động của Karl Marx, khẳng định năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích, biểu thị kết quả sản xuất tạo ra trong một đơn vị thời gian. Đồng thời, đề tài kết hợp thuyết động cơ lao động của Frederick Taylor nhằm phân tích tác động của đòn bẩy kinh tế, tiền lương và tiền thưởng đến hành vi của người lao động. Quan điểm hiện đại của Ủy ban Năng suất châu Âu cũng được tích hợp, tiếp cận năng suất như một trạng thái tư duy cải tiến liên tục nhằm dung hòa mối quan hệ giữa năng suất, chất lượng đầu ra và điều kiện làm việc.

Hệ thống mô hình nghiên cứu bao gồm việc phân tích năng suất tổng thể, năng suất bộ phận và đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Giai đoạn 2011–2015, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 33,58%, trong khi yếu tố vốn đóng góp tới 51,20%. Các khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm: năng suất lao động cá nhân đo bằng sản lượng hoàn thành trên một giờ công; năng suất lao động xã hội phản ánh hao phí lao động sống và lao động quá khứ; chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm (ULC); và chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng giá trị doanh thu bình quân đầu người.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo nhân sự và thống kê diện tích tưới tiêu giai đoạn 2005–2017 của Công ty Thủy lợi Tây Nam Nghệ An, kết hợp tài liệu tổng hợp từ 96 công ty thủy nông trên toàn quốc. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra hiện trường và phiếu khảo sát chuyên sâu thực hiện từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2018.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 4 xí nghiệp thủy lợi trực thuộc công ty đặt tại 4 huyện miền núi với tổng số hơn 100 cán bộ, công nhân viên. Phương pháp chọn mẫu định mức kết hợp tham vấn chuyên gia được thực hiện với 15 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực kinh tế thủy lợi và cán bộ quản lý địa phương. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chuỗi thời gian kết hợp mô hình định biên lao động là nhằm phản ánh chính xác tính chất đặc thù của doanh nghiệp dịch vụ công ích. Phương pháp này giúp tách biệt rõ ràng giữa ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên phức tạp vùng cao và các yếu tố chủ quan trong công tác quản trị doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức năng suất lao động của ngành thủy lợi và nông nghiệp Việt Nam còn rất thấp khi đặt trong tương quan quốc tế và liên ngành. Theo số liệu thống kê, năng suất lao động theo sức mua tương đương của Việt Nam năm 2016 chỉ đạt 9.894 USD, bằng 7,0% của Singapore, 17,6% của Malaysia và 36,5% của Thái Lan. Trong nội bộ nền kinh tế, năng suất lao động nông nghiệp chỉ bằng 29,4% khu vực công nghiệp và 31,3% khu vực dịch vụ.

Thứ hai, cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thủy nông bị mất cân đối nghiêm trọng bởi áp lực chi trả lương. Khảo sát thực tế tại các công ty thủy lợi cho thấy có từ 50% đến 70% tổng thu nhập ngân sách cấp phải chi dùng cho tiền lương bộ máy. Điều này khiến tỷ lệ vốn dành cho bảo dưỡng, sửa chữa kênh mương và công trình đầu mối chỉ còn dưới 30%, dẫn đến tình trạng hệ thống công trình xuống cấp nhanh chóng.

Thứ ba, tốc độ tăng trưởng nhân sự không đi kèm với nâng cao chất lượng chuyên môn. Giai đoạn 2005–2017, số lượng lao động tại Công ty Thủy lợi Tây Nam Nghệ An có xu hướng gia tăng nhưng tỷ lệ công nhân kỹ thuật lành nghề được đào tạo đúng chuyên ngành thủy lợi chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn dưới 25%. Năng suất lao động tính theo diện tích tưới 2 vụ lúa và 3 vụ lúa bình quân đầu người có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ trong khi quỹ lương liên tục tăng theo mức điều chỉnh lương tối thiểu chung.

Thứ tư, địa bàn quản lý phân tán rộng lớn gây suy giảm năng suất bình quân. Công ty đảm nhận nhiệm vụ tại 4 huyện miền núi có địa hình hiểm trở. Điển hình như huyện Tương Dương có diện tích tự nhiên rộng 281.129,37 ha nhưng đất nông nghiệp chỉ có 901,09 ha, chiếm 0,32% diện tích toàn huyện; huyện Kỳ Sơn có đỉnh núi cao tới 2.711 m và địa bàn chia cắt bởi hàng trăm khe suối. Khoảng cách địa lý xa xôi làm tăng hao phí thời gian di chuyển, khiến chi phí lao động trên một hecta tưới tiêu cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với các công ty thủy nông vùng đồng bằng.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét trực quan qua các bảng tổng hợp doanh thu và biểu đồ đường biểu diễn mối quan hệ giữa năng suất lao động với tiền lương giai đoạn 2005–2017, dữ liệu phản ánh sự phân kỳ rõ rệt. Đồ thị cho thấy tốc độ tăng tiền lương bình quân cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động tính theo giá trị sản lượng. Hiện tượng này chứng minh tiền lương tăng lên chủ yếu do điều chỉnh chính sách vĩ mô chứ không xuất phát từ việc cải thiện hiệu quả làm việc thực tế.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên xuất phát từ cơ chế cấp bù thủy lợi phí theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư 65/2009/TT-BNNPTNT. Cơ chế bao cấp đã tạo ra tâm lý ỷ lại, biến doanh nghiệp thành đơn vị hành chính sự nghiệp thay vì một thực thể kinh doanh tự chủ. So sánh với kết quả nghiên cứu của các chuyên gia tại 6 công ty thủy nông thuộc dự án WB7, việc dư thừa lao động gián tiếp, thiếu hụt công cụ giám sát định mức và sự thiếu gắn kết giữa thu nhập với kết quả tưới tiêu là rào cản chung của toàn ngành thủy lợi Việt Nam hiện nay.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và chuẩn hóa định biên lao động cho từng xí nghiệp và trạm bơm. Ban Giám đốc Công ty phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An xây dựng bảng mô tả vị trí việc làm chuẩn, tiến hành cắt giảm hoặc luân chuyển từ 15% đến 20% lượng lao động dôi dư ở bộ phận gián tiếp sang trực tiếp vận hành công trình trong giai đoạn 2018–2020.

Thứ hai, tái cơ cấu nguồn vốn và kiểm soát chi phí vận hành. Công ty cần cơ cấu lại quỹ chi tiêu, khống chế tỷ trọng chi trả lương ở mức dưới 50% tổng nguồn thu ngân sách, đồng thời nâng tỷ lệ kinh phí dành cho bảo dưỡng, nạo vét kênh mương và nâng cấp thiết bị cơ điện lên mức tối thiểu 35% đến 40% bắt đầu từ năm tài chính 2019.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn và chuyển giao kỹ thuật cho cơ sở. Phòng Tổ chức cán bộ chủ trì phối hợp các trường đào tạo chuyên ngành tổ chức bồi dưỡng định kỳ 6 tháng một lần cho 100% cán bộ kỹ thuật và công nhân vận hành, phấn đấu đến năm 2021 toàn bộ nhân viên trực tiếp đều đạt chuẩn tay nghề bậc 3 trở lên; đồng thời tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cho 100% các tổ chức thủy nông cơ sở và hợp tác xã dùng nước trên địa bàn 4 huyện.

Thứ tư, áp dụng cơ chế khoán việc và thuê ngoài dịch vụ chuyên môn hóa. Ban điều hành doanh nghiệp cần đẩy mạnh chuyển giao các hạng mục thi công nạo vét khối lượng lớn, sửa chữa máy bơm phức tạp cho các nhà thầu bên ngoài nhằm tiết kiệm từ 10% đến 15% chi phí so với tự thực hiện; áp dụng phương thức chi trả tiền lương gắn liền với chỉ tiêu diện tích tưới thực tế và chất lượng dịch vụ cấp nước đến từng hộ nông dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban Giám đốc và cán bộ quản lý nhân sự tại 96 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác công trình thủy lợi trên cả nước. Luận văn cung cấp phương pháp tính toán định biên khoa học, giúp các nhà quản lý xây dựng phương án tinh gọn bộ máy và phân bổ nguồn lực lao động hiệu quả tại từng trạm bơm.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Dữ liệu thực chứng trong luận văn là cơ sở quan trọng để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi cơ chế giá dịch vụ thủy lợi thay thế cơ chế cấp bù bao cấp nhằm thúc đẩy tính tự chủ của doanh nghiệp công ích.

Thứ three, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Kỹ thuật tài nguyên nước. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị với hệ thống chuỗi dữ liệu 12 năm từ 2005 đến 2017, kết hợp phương pháp luận chặt chẽ trong việc lượng hóa năng suất lao động đặc thù của ngành thủy nông.

Thứ tư, Ban quản trị các hợp tác xã nông nghiệp và hơn 16.000 tổ chức dùng nước cơ sở tại khu vực miền núi. Nghiên cứu giúp các tổ chức này nâng cao năng lực phối hợp vận hành dẫn nước nội đồng, giảm thất thoát tài nguyên nước và tổ chức lao động thời vụ khoa học.

Câu hỏi thường gặp

Năng suất lao động ngành thủy lợi Việt Nam hiện nay đang ở mức nào so với các ngành kinh tế khác? Năng suất lao động nông nghiệp và thủy lợi hiện ở mức thấp nhất trong nền kinh tế, chỉ đạt khoảng 35,5 triệu đồng trên một lao động mỗi năm, bằng 38,1% mức trung bình toàn quốc và bằng 29,4% khu vực công nghiệp do phương thức sản xuất còn mang nặng tính thủ công.

Cơ chế cấp bù thủy lợi phí theo Nghị định 115/2008/NĐ-CP ảnh hưởng như thế nào đến năng suất lao động? Cơ chế cấp bù gián tiếp tạo ra tâm lý bao cấp và cơ chế xin cho, khiến doanh nghiệp thủy nông tuyển dụng vượt định biên và dành tới 50% đến 70% ngân sách để chi trả lương thay vì đầu tư sửa chữa công trình, làm suy giảm động lực tăng năng suất.

Địa hình miền núi 4 huyện phía Tây Nam Nghệ An tạo ra rào cản gì cho việc nâng cao năng suất? Địa bàn quản lý rộng lớn với huyện Tương Dương có diện tích 281.129,37 ha nhưng diện tích lúa chỉ chiếm 0,32%, cùng địa hình núi cao chia cắt tại Kỳ Sơn khiến công nhân mất nhiều thời gian di chuyển, làm tăng chi phí lao động trên một đơn vị diện tích tưới.

Giải pháp tính toán định biên lao động mang lại hiệu quả gì cho doanh nghiệp? Áp dụng định biên giúp xác định chính xác số lượng lao động cần thiết theo quy mô công trình và diện tích tưới, hỗ trợ cắt giảm từ 15% đến 20% lao động gián tiếp dôi dư và nâng cao hiệu suất làm việc của bộ máy.

Làm thế nào để gắn kết tiền lương với việc thúc đẩy năng suất của công nhân thủy nông? Doanh nghiệp cần duy trì nguyên tắc tốc độ tăng năng suất lao động cao hơn tốc độ tăng lương bình quân, đồng thời áp dụng cơ chế khoán thu nhập gắn với chỉ tiêu diện tích cấp nước thực tế và tỷ lệ tiết kiệm điện năng vận hành máy bơm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các chỉ tiêu đánh giá năng suất lao động chuyên biệt trong lĩnh vực quản lý khai thác công trình thủy lợi.
  • Phân tích chi tiết thực trạng năng suất lao động giai đoạn 2005–2017 tại Công ty Thủy lợi Tây Nam Nghệ An, chỉ rõ điểm nghẽn về quỹ lương chiếm từ 50% đến 70% chi phí và sự bất cập trong phân bổ định biên nhân sự.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp đột phá về chuẩn hóa định biên, tái cơ cấu tài chính, đào tạo tay nghề và chuyển đổi mô hình thuê ngoài dịch vụ chuyên môn.
  • Xác định lộ trình triển khai cụ thể theo các mốc 2018–2020 và 2021 nhằm nâng cao năng suất lao động từ 5% đến 7% mỗi năm, bảo đảm cấp nước an toàn cho sản xuất nông nghiệp tại 4 huyện miền núi Nghệ An.
  • Khẳng định yêu cầu cấp thiết chuyển đổi quản trị doanh nghiệp thủy nông từ mô hình bao cấp hành chính sang quản trị hiện đại, minh bạch chi phí và gắn kết đãi ngộ với kết quả đầu ra.

Các nhà quản lý doanh nghiệp thủy nông và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay khung phân tích định biên này để tối ưu hóa nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống công trình tại đơn vị.