MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết phải nghiên cứu luận văn: Hoạt động tƣ vấn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó không chỉ là hoạt động mang tính nghề nghiệp mà còn là đòn bẩy mang lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật cho xã hội. Ở Việt Nam, hoạt động tƣ vấn không phải là mới nhƣng cũng hình thành trong thời gian chƣa dài, do vậy phát triển tƣ vấn là một việc hết sức cần thiết, nó đƣa ra những giải pháp, sáng kiến, khuyến nghị nhằm mục đích hƣớng dẫn, cố vấn chuyên môn cho các doanh nghiệp, cho khách hàng. Cùng với sự chuyển mình của hoạt động này, các tổ chức tƣ vấn xây dựng đã và đang từng bƣớc thay đổi để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trƣờng.
Bên cạnh đó, Nhà nƣớc và các Bộ, Ngành đã ban hành hàng loạt hệ thống văn bản, nghị định thông tƣ quản lý loại hình hoạt động kinh doanh chất xám này và hệ thống văn bản đó đã và đang phát huy hiệu lực trong việc quản lý và khai thác hoạt động tƣ vấn trong toàn quốc. Với lực lƣợng đông đảo các nhà tƣ vấn (khoảng trên 1000 doanh nghiệp cùng hàng vạn kiến trúc sƣ, kỹ sƣ, các nhà khoa học, các cán bộ quản lý trên cả nƣớc) đang hoạt động hết sức năng động trên toàn quốc, lĩnh vực tƣ vấn xây dựng đang vƣơn lên phát huy nội lực, từ chỗ chỉ thực hiện khảo sát thiết kế đến nay đã đảm nhiệm 14 loại hình hoạt động tƣ vấn theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển quá nhanh về số lƣợng còn nhiều vấn đề bất cập về chất lƣợng nhƣ: năng lực của các tổ chức tƣ vấn còn hạn chế, ƣu thế cạnh tranh không cao, việc quản lý còn bị hạn chế do cơ chế chính sách đối với các tổ chức tƣ vấn còn nhiều vấn đề bất cập. Điều này đòi hỏi các tổ chức tƣ vấn cần phải nhìn nhận, đánh giá, nắm bắt mọi diễn biến của hoạt động kinh doanh để tự đổi mới từ các khâu tổ chức, quản lý đến việc củng cố lại đội ngũ cán bộ, dần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trƣờng tƣ vấn.
Vài năm trở lại đây, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra cho tƣ vấn xây dựng Việt Nam những cơ hội và thách thức mới. Với chính sách của nhà nƣớc HVTT: Trần Thị Thái Page 9 về việc mở cửa thị trƣờng xây dựng cho nhà thầu nƣớc ngoài, tƣ vấn Việt Nam sẽ tận dụng đƣợc uy tín thƣơng mại và kỹ thuật của họ để vƣơn lên, học tập đƣợc kỹ năng quản lý toàn diện một dự án, nâng cao đƣợc kiến thức công nghệ, nắm bắt đƣợc thị trƣờng quốc tế. Tuy nhiên việc mở cửa cho các nhà thầu nƣớc ngoài đồng nghĩa với việc các công ty Việt Nam sẽ bị cạnh tranh quyết liệt hơn cả trong đấu thầu trong nƣớc và quốc tế do khả năng chuyên môn, trình độ quản lý, công nghệ. Trong mối quan hệ giữa tƣ vấn trong nƣớc và tƣ vấn nƣớc ngoài, tƣ vấn xây dựng Việt Nam thƣờng đóng vai trò thầu phụ.
Các nhà thầu chính nƣớc ngoài chỉ dành cơ hội cho nhà thầu phụ trong nƣớc những phần việc nhỏ , với chi phí thấp hơn nhiều so với dự toán. Thách thức, cơ hội và áp lực đan xen đòi hỏi bản lĩnh và sự phấn đấu của chính lực lƣợng tƣ vấn xây dựng Việt Nam tự tạo cho mình bƣớc đi thích hợp, khai thác lợi thế, hạn chế tiêu cực, từng bƣớc, bắt kịp với trình độ quốc tế, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Trong điều kiện nhƣ vậy, việc đƣa ra định hƣớng những tiêu chí và hoạch định biện pháp thực hiện cho các doanh nghiệp tƣ vấn Việt Nam trên con đƣờng hội nhập là một nhu cầu bức thiết cả trƣớc mắt và lâu dài, nhất là xét đến bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đang gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới. Đó là lý do đòi hỏi phải tăng cƣờng năng lực tƣ vấn xây dựng Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động tƣ vấn nói chung, tƣ vấn xây dựng công trình giao thông nói riêng và năng lực tƣ vấn xây dựng trong điều kiện kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng năng lực hoạt động tƣ vấn của các doanh nghiệp tƣ vấn xây dựng trong thời gian qua, qua đó đi sâu phân tích và đánh giá, những mặt mạnh, mặt yếu, những thành quả đạt đƣợc về năng lực hoạt động tƣ vấn của công ty cổ phần tƣ vấn đầu tƣ xây dựng công trình giao thông Quảng Ngãi HVTT: Trần Thị Thái Page 10 Đề xuất các tiêu chí, giải pháp, mục tiêu cơ bản nhằm nâng cao năng lực hoạt động tƣ vấn của công ty cổ phần tƣ vấn đầu tƣ xây dựng công trình giao thông Quảng Ngãi 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Hệ thống văn bản pháp lý quy định cho hoạt động tƣ vấn xây dựng, các Doanh nghiệp tƣ vấn xây dựng nói chung và công ty cổ phần tƣ vấn đầu tƣ xây dựng công trình giao thông Quảng Ngãi nói riêng trong hoạt động tƣ vấn xây dựng công trình giaothông. Phạm vi nghiên cứu là lĩnh vực tƣ vấn xây dựng các công trình giao thông.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp luận, phƣơng pháp đối chiếu, phƣơng pháp phân tích tổng hợp kết hợp với phƣơng pháp nghiên cứu định tính và định lƣợng, mô hình hóa các số liệu điều tra thực tế, thống kê, phân tích so sánh, tiếp cận hệ thống, lựa chọn tối ƣu, phƣơng pháp chuyên gia 5. Nội dung, kết cấu của luận văn: Tên đề tài: Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động tư vấn của Công ty cổ phần tư vấn đầu tư xây dựng công trình giao thông Quảng Ngãi. Luận văn bao gồm các nội dung sau: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về hoạt động tƣ vấn đầu tƣ xây dựng Chƣơng II: Thực trạng hoạt động tƣ vấn của công ty cổ phần tƣ vấn đầu tƣ xây dựng công trình giao thông Quảng Ngãi. Chƣơng III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạt động tƣ vấn của Công ty Cổ Phần tƣ vấn đầu tƣ xây dựng công trình giao thông Quảng Ngãi.
Kết luận - Kiến nghị HVTT: Trần Thị Thái Page 11 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TƢ VẤN XÂY DỰNG .1 Khái niệm về tƣ vấn- tƣ vấn xây dựng: 1.1 Khái niệm hoạt động tư vấn: a) Bản chất: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế các loại hình sản suất kinh doanh, các ngành nghề kinh doanh ngày càng trở nên đa dạng và phong phú. Sự phát triển đó kích thích các dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh ra đời và ngày càng phát triển. Mặc dù còn tƣơng đối mới mẻ nhƣng loại hình hoạt dộng tƣ vấn đã phát triển nhanh và trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, nhất là trong nền kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc nhƣ ở nƣớc ta hiện nay. Đây là điều tất yếu để phù hợp với xu thế phát triển để từng bƣớc hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Các loại hình tƣ vấn sản xuất kinh doanh, dịch vụ hiện nay rất đƣợc quan tâm trong chiến lƣợc phát triển kinh tế của các nƣớc trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tƣ vấn trƣớc hết đƣợc khẳng định là loại hình hoạt động mang tính chất trí tuệ. Dựa trên sự vận dụng những kiến thức, tri thức, kỹ năng khoa học, kỹ năng áp dung các công nghệ, kinh nghiệm thực tế, cách nắm bắt xử lý các thông tin các nhà tƣ vấn giúp các cá nhân, các tổ chức các doanh nghiệp phát triển các vấn đề và đƣa ra cách giải quyết các vấn đề đó một cách tốt nhất. Tƣ vấn đƣợc hiểu là một lĩnh vực hoạt động mang tính dịch vụ.
Chính quá trình phân công lao động và cạnh tranh ngày càng sâu sắc trong nền kinh tế thị trƣờng với xu thế hội nhập, khu vực hóa, quốc tế hóa và xã hội hóa đã tạo điều kiện cho loại hình dịch vụ tƣ vấn ra đời. Đây là một phƣơng thức giúp nhà đầu tƣ, nhà quản trị, nhà lãnh đạo… có đƣợc thông tin đầy đủ hơn để có đƣợc quyết định đúng đắn, chính xác hoặc có đƣợc giải pháp giải quyết vấn đề khách quan, toàn diện hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế - xã hội. HVTT: Trần Thị Thái Page 12 Bản chất của hoạt động tƣ vấn chính là một hoạt động chất xám cung ứng cho khách hàng những khuyến nghị đúng đắn về chiến lƣợc, sách lƣợc, biện pháp hành động và giúp đỡ hƣớng dẫn khách hàng thực hiện lời khuyên đó, kể cả tiến hành những nghiên cứu soạn thảo dự án và giám sát quá trình thực thi dự án đạt hiệu quả cao nhất. Nghề tƣ vấn đƣợc coi là nghề dịch vụ trí tuệ của những ngƣời làm công tác tƣ vấn mà nội dung chính là cung cấp lời khuyên hữu ích, hoặc cung cấp năng lực giải quyết những vấn đề mà ngƣời ra quyết định cần quan tâm, trên cơ sở các quy tắc chuẩn mực và phƣơng thức hành nghề.
Sản phẩm của tƣ vấn là những lời khuyên thể hiện trong hoạt động khảo sát, lập Báo cáo đầu tƣ, thiết kế kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật thi công, giám sát chất lƣợng công trình, nghiệm thu công trình. Những lời khuyên này đƣợc tạo ra từ những tổ chức và cá nhân độc lập về hoạt động với các tổ chức, cá nhân tiếp nhận nó. Lời khuyên đó không mang tính chất ra lệnh mà là hỗ trợ các thông tin, kỹ năng cần thiết mà ngƣời ra quyết định cần quan tâm để việc ra quyết định có hiệu quả hơn. Những giá trị của lời khuyên lại lớn và trƣớc hết phụ thuộc vào khả năng của ngƣời tiếp nhận lời khuyên.
Trên cơ sở phân tích các vấn đề, các sự kiện mà các tổ chức, cá nhân làm công tác tƣ vấn tạo ra những sản phẩm tƣ vấn của mình cho khách hàng. Trên một phƣơng diện khác tƣ vấn đƣợc nhìn nhận là một hoạt động hay một chức năng, là hoạt động mang lại những sự giúp đỡ cho ngƣời ra quyết định về những nội dung, phƣơng pháp, quá trình, cơ cấu nhiệm vụ hay hàng loạt các nhiệm vụ mà ngƣời ra quyết định, khách hàng quan tâm. Theo nghĩa hẹp, tƣ vấn đƣợc nhìn nhận với tƣ cách là một dịch vụ chuyên môn: ngƣời làm công tác tƣ vấn thực hiện những hợp đồng nghề nghiệp với khách hàng của mình để giải quyết một công việc nào đó.